VIỆT NAM CỘNG HÒA

Archive for the ‘LNTH’ Category

Quốc tang Việt Nam Cộng Hoà

17156009_682357281943189_5500983743920307240_n

Từ ngày tháng ba gãy súng đến ngày quốc hận 30.4, 
xin hãy để tang cho những hương linh vị quốc vong thân 
và nạn nhân chiến cuộc Việt Nam Cộng Hòa.

Lê Ngọc Túy Hương


Histoire : Diễn tiến những ngày mất nước 30/4/1975.

Publié le 18 avril 2006 par laure nguyen duy

(Viết theo Nam Nguyên Phương Anh – Nguyễn An – vn đi tới , Một thời Phan-châu Trinh Đà nẵng

 

Cách đây 30 năm, ngày 30 tháng Tư năm 1975, cuộc chiến tranh VN kéo dài 21 năm đã kết thúc, hai triệu người ở cả hai miền Nam Bắc thiệt mạng.

 

Để đánh dấu tam thập niên ngày kết thúc cúa cuộc chiến tranh đẩm máu quốc cọng, chúng tôi xin nhắt lại cuộc diễn tiến lịch sử trong tuần lễ cuối cùng của thánh tư đen 30/04/75.

 Ngày 6/1/75 – Trong một trận mất thảm hại cho Việt Nam Cọng Hoà, quân miền Bắc tấn công, chiếm đươc Phước Bình, Phước Long và vùng phụ cận. Cuộc tấn công này vi phạm trắng trợn hiệp định Ba Lê, nhưng Hoa Kỳ không trã đũa. Những hy vọng pháo đài B-52 dội bom quân Cọng Sản xâm lược, cũng như Hoa Kỳ tăng viện trợ không còn nữa.

Ngày 11/3/75 – Quân đội hùng hậu miền Bắc tổng tấn công miền Trung Việt Nam gây thiệt hại nặng nề cho Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà.
Ban Mê Thuột, thị trấn Darlac vùng Cao Nguyên Trung Phần bị mất.

Ông Nguyễn văn Thiệu, Tổng Thống lúc bấy giờ quyết định rút quân bỏ Plieku và Kontum. Ông Thiệu quyết định thay đổi chiến lược “cắt đất, chia bớt dân cho Cọng Sản”. Chiến lược mới này ông Thiệu gọi là “Chiến lược đầu bé đít to”.  Việt Nam Cọng Hoà sẽ bỏ những vùng núi it dân, rút về phòng thủ những vùng trù phú, đông dân. “Ðầu bé” bao gồm Cao Nguyên , Quảng Trị, Thừa Thiên; “Ðít to” gồm đồng bằng sông cửu Long và Duyên Hải.


Ngày 17/3/75 – Cuộc rút bỏ Cao Nguyên khởi sự từ ngày 17-3-1975 gây hoang mang, xáo trộn khắp nơi. Binh sĩ Việt Nam Cọng Hoà tháo lui trong hỗn loạn, 60 ngàn người chết hoặc mất tích.
“Cuộc triệt thoái Cao Nguyên là một quyết định chiến lược sai lầm của tập đoàn lãnh đạo đất nước và chỉ huy Quân Ðội, đưa đến sự sụp đổ tinh thần, làm tan rã Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà và mất nước. Một cuộc hành quân triệt thoái với những bi thảm, kinh hoàng và thiệt hại lớn lao nhất trong lịch sữ chiến tranh Việt Nam” (Phạm Huân – “Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975”).

Tháng 3/75 – Quân đội miền Bắc đem 100 ngàn quân bao vây các tỉnh Quảng Trị, Huế và Ðà Nẵng. Với thiết giáp và tám sư đoàn pháo binh họ lẹ làng chiếm được tỉnh Quảng Trị.

Ngày 17/3/75 – Huế, trung tâm văn hoá, thành phố lớn nhất thứ ba của Việt Nam Cọng Hoà rơi vào tay quân đội miền Bắc. Sau đó là Ðà Năng, thành phố lớn thứ nhì cuả miền Nam. Xuân Lộc, thị trấn Long Khánh rơi vào tay quân miền Bắc.

 



Đầu tháng Tư 75 – Trong vòng năm tuần lễ quân đội miền Bắc đã chiếm được mười hai quận, kiểm soát tám triệu dân. Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà, mất đi những sư đoàn thiện chiến nhất, hơn một phần ba binh sĩ và một nửa vũ khí.



Ngày 8/4/1975 – Nguyễn Thành Trung đem báy bay thả bom dinh Ðộc Lập. Trước nguy cơ mất nước, các giới lãnh đạo chính trị, tôn giáo, và các đoàn thể yêu cầu Ông Thiệu từ chức. Tin đồn có hai cuộc đảo chánh hụt đã xảy ra.

 

Ngày 21/4/1975  – TT Nguyễn Văn Thiệu chịu áp lực từ nhiều phía và quyết định từ chức. Ông nói: “Thưa đồng bào anh chị em chiến sĩ cán bộ các cấp, tôi tuyên bố từ chức tổng thống và theo hiến pháp phó tổng thống Trần Văn Hương sẽ đảm nhận chức tổng thống.”

Khi nhà giáo Trần Văn Hương lên nắm giềng mối quốc gia, thì lúc đó 6 sư đoàn quân cộng sản Bắc Việt đang khép chặt vòng vây thủ đô Saigon, nơi có 3 triệu người sinh sống.

Ngày 24/4/1975 – Dự đoán sự sụp đổ của Việt Nam Cọng Hoà, Tổng Thống Hoa K ỳ, Gerald Ford, thông báo tại New Orleans, là đối với Hoa K ỳ, cuộc chiến Việt Nam đã “kết thúc”.

Ngày 25/4/1975 – Ông Nguyễn văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm  và đoàn tùy tùng đáp chuyến bay đặc biệt đi Ðài Loan.

Ngày 26/4/1975 – Nhận nhiệm vụ được 5 ngày, tới ngày 26/4 Ông Trần Văn Hương yêu cầu quốc hội tìm người thay thế mình, một người mà theo ông có đủ khả năng tìm giải pháp vãn hồi hoà bình hoà giải dân tộc.

Quốc hội ra nghị quyết chỉ định đại tướng Dương Văn Minh vào chức vụ tổng thống.

Ngày 28/4/1975 – Quân miền đã tiến đến gần ngoại ô Saigòn. Các nhà lãnh đạo Việt Nam Cọng Hoà, vội vã đưa tướng Dương văn Minh lên thay Tổng Thống Trần văn Hương để kết thúc chiến tranh theo các điều kiện cuả miền Bắc đòi hỏi. Trong bài diễn văn nhậm chức, Ông Minh keu gọi “người anh em phiá bên kia, Chính Phủ Lâm Th ời Miền Nam Việt Nam ” hãy tham gia cuộc hưu chiến và hoà đàm cho một giải pháp chấm dứt cuộc chiến.

Chiều ngày 28/4/1975 Lễ Bàn Giao giữa hai ông Trần Văn Hương và Dương Văn Minh được tổ chức tại Dinh Độc Lập.

Lời tổng thống Hương liên tục với tường thuật của phóng viên: “ …Làm thế nào cho dân được sống yên…làm thế nào cho máu đừng đổ thịt đừng rơi thì công của đại tướng đối với hậu thế sẽ lưu lại đời đời, dầu thế nào tôi thiết nghĩ đất nước này không bao giờ quên công lao đó của đại tướng….(vỗ tay)….(tường thuật)

Sau khi nguyên tổng thống Trần Văn Hương đọc xong bài diễn văn trao nhiệm, chúng tôi nhận thấy một sĩ quan đã gỡ huy hiệu tổng thống hai con rồng bay xuống…và thay thế bằng một huy hiệu tổng thống mới…với hình một hoa mai năm cánh…

Đây là phóng viên Hệ Thống Truyền Thanh VN, quí thính giả đang theo dõi trực tiếp truyền thanh lễ trao nhiệm chức tổng thống VNCH giữa ông Trần Văn Hương và cựu đại tướng Dương Văn Minh …

Lúc này bên ngoài dinh Độc lập chúng tôi nhận thấy trời đã bắt đầu mưa nhỏ và Saigon đang trải qua một buổi chiều u ám như hoàn cảnh hiện tại của đất nước…”

Cho đến 30 năm sau, vẫn chưa có lời giải đáp là tại sao Nam Việt Nam lại tan rã nhanh chóng như vậy. Tuy nhiên theo nhiều nhà phân tích thời cuộc, thì kể từ lúc tổng thống Thiệu từ chức ngày 21/4 và vội vã ra đi 2 ngày sau đó, sự kiện chế độ VNCH cáo chung chỉ còn là vấn đề thủ tục.

Ngày 29/4/1975 – Trực thăng Thủy quân lục chiến và của không quân Hoa K ỳ, bay từ các chiến hạm ngoài khơi, không vận một ngàn người Mỹ và hơn năm ngàn người Việt tị nạn ra khỏi Saigòn, trong vòng 18 tiếng đồng hồ.

Trực thăng Quân Lực Việt Nam Cọng Hòa tản mát bay đậu trên các chiến hạm Hoa K ỳ. Những trực thăng này phải vứt xuống biển, nhường chỗ đậu cho những chiếc kế tiếp.
Tướng Không Quân Nguyễn Cao Kỳ đáp trực thăng xuống chiến hạm USS Midway và sau đó chuyển sang chiến hạm Blue Ridge.

Ngày 30/4/1975 10 giờ sáng  – Đại Tướng Dương Văn Minh được xem là người thích hợp nhất để nhận trách nhiệm ra lệnh đầu hàng. Mời quí vị nghe lại tuyên bố của tổng thống Dương Văn Minh được phát đi trên Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia vào lúc 10 giờ sáng ngày 30/4/1975:

“ Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hoà giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam…vì lẽ đó tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ VNCH hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu ở đó.  

Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng, vì chúng tôi ở đây chờ gặp chính phủ CMLTCHMNVN để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự…tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào…”

Sau khi Đài Phát Thanh Saigon lập lại nhiều lần lệnh buông súng của Tổng thống Dương Văn Minh , cũng như nhật lệnh tương tự của thiếu tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người được bổ nhiệm làm phụ tá cho tổng tham mưu trưởng sau cùng là Trung Tư ớng Vĩnh Lộc. Quân đội đã thi hành lệnh giao nạp vũ khí cho những người chủ mới của đất nước.

Ngày 30/4/1975 10 giờ 45 sáng  – Xe Tăng Cộng Sản Bắc Việt tiến vào khuôn viên Dinh Độc Lập lúc 10g45 phút sáng ngày 30/4, đánh dấu sự cáo chung của chế độ VNCH. Một chế độ được xây dựng bởi những người không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản. Chế độ ấy trải qua hai nền cộng hoà tồn tại được 21 năm.

Cuộc chiến quốc cộng huynh đệ tương tàn làm thiệt mạng hơn hai triệu người Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc. Phía đồng minh của VNCH, 58 ngàn quân nhân Mỹ tử trận cùng hàng ngàn binh sĩ của các nước Nam Hàn, Thái Lan, Úc và Tân Tây Lan.

Ðại Sứ Martin không muốn rời Việt Nam, vì ông ta muốn kéo dài thì giờ để có thể cứu thêm những người khác. Cuối cùng, chúng tôi phải chỉ thị bắt ông đại sứ phải rời nhiệm sở. Ông đại sứ Martin nói chuyện với chúng tôi và tôi còn nhớ là ông ta bảo là sẽ lên sân thượng của Toà Ðại Sứ, dùng trực thăng để ra hạm đội, và chúng tôi nói lời từ giã với nhau.

Không đầy một giờ đồng hồ sau đó, đại sứ Martin gọi điện lại báo đã ra tới hạm đội bình yên.
Hậu quả – Chiến tranh Việt Nam chấm dứt sau 15 năm đẫm máu. Hơn một triệu binh sĩ miền Nam lẫn miền Bắc tử trận, hàng ngàn thường dân bị chết.

Các binh sĩ Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà, công chức kẹt lại bị gọi đi tập trung lao động cải tạo ở các trại rải từ Phú Quốc, Cà Mau đến Lào Cay tận biên giới Trung Quốc.



Cuộc di tản bằng thuyền để trốn chế độ Cọng Sản bắt đầu.

Sau 1975, số lượng người Việt đã bỏ xác trên biển Đông, trong tay hải tặc suốt 22 năm từ 1975 đến 1997 khi các trại tỵ nạn chính thức đóng cửa, lần nữa, cũng chẳng thể nào thống kê được. Những trại tỵ nạn Camp Pendleton, Leamsing, Palawan, Pulau Bidong, Sungai Besi, Bataan, White Head, Panat Nikhom, Galang,… sau những chuyến hải hành vô định trên biển Đông trùng trùng gió bão trong đói khát, lo âu.Bà mẹ quỳ lạy những tên hải tặc để xin tha cho đứa con gái chỉ mười lăm tuổi ốm o bịnh hoạn của bà. Nước mắt và những lời van xin của mẹ không lay động tâm hồn của những con người không còn một chút lương tri. Tiếng niệm Phật, lời cầu kinh không ai nghe. Không có Chúa và không có Phật, ở đó, trên bãi san hô của đảo Koh Kra, phía nam vịnh Thái Lan, chỉ có những thân thể trần truồng, máu me nhầy nhụa, chỉ có tiếng rên của những con chim nhỏ Việt Nam bất hạnh và giọng cười man rợ của bầy ác điểu Thái Lan. Chúng ta có thể từng nghe kể lại những chuyến vượt biển hãi hùng, những cái chết thương tâm, tuy nhiên những cảnh hãi hùng và thương tâm nhiều lần hơn như thế sẽ không bao giờ nghe được, đơn giản vì chẳng còn ai để kể.

 

30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu một thảm cảnh của dân tộc Việt Nam, ngày mà cán binh cộng sản xâm chiếm nước Việt Nam Cộng Hoà. Đảng CS  đã áp đặt lên dân tộc Việt một thể chế ngoại lai, man di mọi rợ : vô gia đình, vô tôn giáo, vô tổ quốc. 

Nước Việt rơi vào chế độ độc tài và độc đảng. Quyền dân bị tịch thâu bở đáng CS. Kinh tế và giáo dục bị kiềm chế. Tư do bị xáo bỏ. Cho đến bao giờ ???

Advertisements
Image

Chúc Mừng Xuân Mới Đinh Dậu

xuan-dinh-dau-lnth

Image

Chúc Mừng Xuân Mới Bính Thân

Binh Than TH al

Những cái Tết xưa, LNTH

Nhung cai Tet xua

(Bài viết cho Đặc San Người Việt Quốc Gia Montreal, Canada)

Không khí tưng bừng nhộn nhịp mừng Giáng Sinh 2015 và tết Dương Lịch 2016 của dân chúng nơi đây làm tôi không khỏi ngậm ngùi nhớ tới những cái Tết Tha Hương của mình. Dăm tuần nữa Tết Bính Thân 2016 sẽ về. Dòng ký ức vui buồn của những mùa Xuân cũ lần lượt nối tiếp nhau trong tâm trí tôi.

1.
Sau 5 năm mong chờ, chạy chọt, đút lót, gia đình tôi cuối cùng cầm được trong tay tờ giấy “xuất cảnh” của cái-gọi-là-nhà-nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Vào lúc đó, hàng bao nhiêu người khác tại Việt Nam ao ước được thoát khỏi bàn tay chính quyền cộng sản bằng mọi giá, ngay cả đánh cược bằng chính mạng sống của mình. Vậy mà gia đình tôi đổi được cái Tự Do một cách an toàn chỉ bằng của cải vật chất. Dù sau đó trắng tay, vẫn đúng là vạn phần may mắn !
Tôi rời Việt Nam vài tháng trước Tết Tân Dậu 1981 để đi đoàn tụ với gia đình anh tôi tại một quận lỵ nhỏ bé của nước Pháp, nằm bên bờ Địa Trung Hải. Nơi đây, “cộng đồng Việt Nam” vỏn vẹn chỉ có 3 gia đình. Một gia đình gồm hai ông bà, nhỏ tuổi hơn Ba Má tôi, có nhà trên Paris, mỗi năm xuống đây ở vài tháng trốn lạnh. Gia đình thứ hai là hai ông bà bác lớn tuổi hơn Ba Má tôi, thường trú tại nơi này. Hai Bác đã xa Việt Nam từ thập niên năm mươi! Gia đình còn lại là gia đình nhỏ gồm 3 người của anh tôi, nay được tăng cường nhân số bởi người thân tỵ nạn cộng sản từ Việt Nam tới.
Bước chân ra đường, nhìn quanh tôi chỉ thấy có mỗi một mình mình là tóc đen mũi tẹt. Hàng chợ Việt Nam tuyệt nhiên là con số không. Nơi quận lỵ đìu hiu này không dễ dàng tìm được những sản phẩm Á Châu. Việc bếp núc hàng ngày, muốn có món ăn Việt Nam, chị tôi phải tận dụng sáng kiến để hoà hợp và chế biến từ những sản phẩm Âu Châu, nếu có thể được. Nhưng dĩ nhiên, chỉ là tạm chấp nhận vì thiếu thốn các gia vị đặc trưng.
Nhớ lại cái Tết tha hương đầu tiên trên xứ người…hiu quạnh và buồn lắm. Dù vào lúc đó toàn gia đình sum họp, quây quần, nhưng tôi biết chắc, Ba Má tôi và chị em tôi rất buồn và rất nhớ Việt Nam. Cái không khí rộn ràng của thời gian trong Tết và giây phút thiêng liêng của đêm Giao Thừa tại quê nhà thuở nào, làm sao lấy gì thay thế được? Ở đây, đời sống trôi theo nhịp điệu thường nhật, người ta tất bật đi làm. Tết nhứt Việt Nam nếu không rơi vào cuối tuần thì ít ai tha thiết đón mừng Tết, và thường quan niệm “ăn Tết Tây cho nó tiện”.
Năm ấy, tôi cùng Ba Má tôi đón giao thừa Tết Việt Nam theo giờ Âu châu, thật lặng lẽ. (12 giờ khuya Âu châu đã là 6 giờ sáng mùng một Tết giờ Việt Nam!). Bàn thờ tổ tiên chỉ có cặp đèn cầy cắm trên hai cái đĩa nhỏ, cái ly đựng gạo thay thế lư hương, bình bông, dĩa trái cây và chút bánh ngọt âu tây. Má tôi đốt sáng hai cây đèn cầy, thắp 3 cây nhang, (do Dì tôi gửi từ Paris xuống) vái nguyện cúng giao thừa. Mắt Má tôi sũng ướt, nhưng có lẽ đầu năm nên bà đã cố cầm lại, không để cho nước mắt chảy! Phải là người trong cảnh mới thấm cái đau và buồn của Ba Má tôi: “Vì sao mà ông bà phải đánh đổi tất cả cho hai chữ TỰ DO, với hai bàn tay trắng trôi lạc nơi xứ lạ quê người, chấp nhận cuộc sống ly hương, làm thân chùm gửi nhà con cái, và chắc chắn một điều là sẽ vùi thân nơi đất khách.”
Từ giây phút nhìn thấy những giọt nước mắt dấu kín của Má tôi, tôi đã tự thầm nhủ với mình, mai sau, tôi có gia đình, có cuộc sống riêng, bằng mọi cách, tôi sẽ “ăn Tết” Việt Nam ĐÚNG ngày tháng, ĐÚNG truyền thống, lễ nghi và tập tục của ông bà. Có như vậy thì ít ra tôi còn giữ lại được cho chính mình cái gì mà Việt cộng không thể cướp lấy đi được như chúng đã cướp đi rất nhiều thứ của người dân miền Nam.
Cho tới ngày hôm nay tôi đã làm được điều đó, thậm chí còn có chục năm dư cùng chung “ăn Tết” với Má tôi. Tôi nghĩ mình có thể kiên trì giữ vững việc này cho tới chừng nào tôi còn sức khoẻ, còn minh mẫn và chưa phải ủy thác cuộc sống của mình vào sự chăm sóc của người khác. Cám ơn chồng tôi và con tôi đã cùng tôi tâm đầu ý hợp, chung tay gìn giữ phong tục tập quán cổ truyền của ông bà, ngôn ngữ Việt Nam Cộng Hoà và nhất là chung lòng bền chí chống cộng triệt để, một lòng son sắt với quốc gia Việt Nam Cộng Hoà, với lá cờ vàng ba sọc đỏ.
Thấy chúng tôi nhất quyết không quay trở về Việt Nam dưới chế độ cộng sản hiện tại, người ta hay hỏi chúng tôi không nhớ Việt Nam sao? Nhớ chứ! Cây có cội và nước có nguồn. Làm sao chúng tôi có thể quên được quê cha đất tổ? Nhưng tôi phân biệt rõ giữa nhớ thương và bổn phận của con dân Việt Nam Cộng Hoà. Chỉ giản dị như vậy thôi là tôi có thể hiểu ngay và thấy rõ mình PHẢI làm gì và KHÔNG ĐƯỢC làm gì.
2.
Tết ta hay rơi vào khoảng thời gian từ giữa tháng một đến giữa tháng hai dương lịch, đúng vào mùa đông tại Âu Châu. Thời tiết có năm thì dễ chịu, có năm thì vất vả vì quá lạnh và đường xá đầy tuyết, trở ngại di chuyển, lưu thông. Việc này làm cho cuộc sống thường nhật đã bận càng rộn thêm hơn.Tuy vậy, lu bu cỡ nào tôi cũng phải lo ăn Tết. Đó là liều thuốc quan trọng chữa trị tâm bệnh của tôi. Cái tâm bệnh u uẩn, tưởng chìm lắng nhưng vẫn cứ hay trở chứng mỗi khi nhớ tới những vui buồn xa xưa nơi quê nhà, trước và sau ngày bọn Việt cộng cướp mất quê hương tôi.

3.
Nhắc đến hai chữ “Giao Thừa”, lắm khi lòng tôi chùng xuống. Có một giao thừa năm đó, tôi thấm thía vô cùng ý tình của câu thơ được phổ nhạc : “Xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em”. Người bạn thưở thiếu thời bị tịch thu nhà và bị đuổi đi về vùng kinh tế mới, xa tít nơi núi rừng Kontum, chỉ vì “cái tội” cả nhà vượt biên theo “giặc Mỹ”, còn sót lại một mình và người cha già đang mỏi mòn làm thân “tù cải tạo” ngoài Bắc… Đêm Giao Thừa đó, nước mắt tôi đã chảy. Là những giọt nước mắt sung sướng chăng ? Tôi không rõ. Tôi chỉ nhớ mình rất đau lòng gặp lại người bạn cũ … Ôi còn đâu cái dáng thư sinh nho nhã ngày nào? Chỉ thấy đầy nét chán chường và tiều tụy, nhưng vẫn dành tặng tôi một nụ cười tươi để chúc mừng nhau năm mới. Chúc nhau một năm may mắn, sớm “sum họp gia đình” bên kia một đại dương. Chúng tôi đi bên nhau trong đêm trừ tịch và thật sự rất cơ hàn…chỉ còn chiếc lá vàng đượm ngát ân tình làm lộc mùa Xuân cho nhau. Vậy rồi thôi ! Ngắn ngủi vài ngày Tết thì trở về với thực tại. Người về miền núi rừng và tôi ở lại Sàigòn… hẹn một kiếp nào sẽ tương phùng. Tương lai chúng tôi lúc đó quá mù mịt và viển vông. Không thắt chặt, không hẹn hò vì sẽ chỉ làm vướng chân nhau. Ngày 30.4.1975, khi Việt cộng đặt chân trên đường phố Sàigòn cũng là ngày mà chúng mang cái định mạng đau thương đổ ập lên tất cả người dân Việt Nam Cộng Hoà nói chung và chúng tôi nói riêng. Lúc đó tôi vừa 20 tuổi. Tình yêu, tương lai và cuộc đời tươi đẹp của tuổi trẻ, tất cả bị dòng cuồng lưu oan nghiệt cuốn trôi.
Nói như vậy, nghĩa là trước đó những người sống tại hậu phương Sàigòn chúng tôi và hàng vạn người khác, được yên ổn học hành, làm việc, thụ hưởng cuộc sống an nhàn, trong khi tại tiền tuyến cuộc chiến quốc cộng đang diễn ra khốc liệt. Trớ trêu chăng khi ngày hôm nay không ít người vị kỷ quay lại “chăn chiếu với kẻ quốc thù”, thật khó hiểu tâm tình những người phản bội này.

4.
Tôi trải qua 5 cái Tết dưới chế động cộng sản. Đau buồn nhất là 4 cái Tết sau cùng. Nhân số gia đình tôi ngày càng thưa thớt đi. Người anh rể phải chịu “tù cải tạo” ở Hà Nam Ninh từ sau ngày Quốc Hận là chuyện chẳng đặng đừng. Kế đó là người chị kế tôi “được Việt cộng giải phóng” oan uổng khi chị tròn 26 tuổi, chỉ vài tháng sau cái Tết Bính Thìn năm 1976.
Tôi chỉ còn gửi gấm tình thương yêu chị qua việc chăm sóc mồ mả chị hàng tuần trên bà Quẹo. Hàng năm, khi bước vào hạ tuần tháng Chạp ta, sau khi đưa ông Táo xong, tôi và người chị thứ Tư hì hục ôm vài chậu hoa, chen lấn lên xe bus, đổi xuống xe ngựa, đem cho chị tôi cùng “ăn Tết”. Tôi không khỏi đau lòng khi ngày tư ngày Tết cả nhà quây quần và “…đành bỏ chị một mình cùng lũ côn trùng rỉa rúc thân hình !”. Trớ trêu thay bài nhạc có lời phổ từ thơ này lại là một trong những bài yêu thích nhất của chị tôi khi còn sinh tiền. Hàng đêm, sau khi cơm nước xong, chị có thói quen thường hay đàn dăm mười bài gì đó. Gần như đêm nào chị cũng đàn bài này. Sau này, chị mất rồi, khi ngồi học bài vào buổi tối, tôi vẫn như văng vẳng nghe tiếng đàn Mandoline réo rắt của chị. Lòng tôi sũng ướt và nhớ thương chị vô cùng!
Ba Má tôi không có can đảm lên thăm mộ chị sau ngày đưa tang. Lần duy nhất ông bà lên thăm mộ là để từ biệt chị trước khi ra đi làm người ly hương! Ba tôi có làm một bài thơ cho chị. Tôi nhớ ông đọc trong nước mắt, ngừng lại rất nhiều lần vì nghẹn ngào. Cuối cùng ông kêu chúng tôi đốt bài thơ trước mộ chị. Mong rằng khói sẽ mang những dòng chữ thương yêu của người cha già tới chị. Khoảng thời gian đó, mắt Ba tôi bị cườm, thấy mờ ảo – Thường thì chúng tôi hay làm thư ký cho ông, đọc báo hay thư từ cho ông nghe, hoặc viết thay ông các văn bản và chỉ tay vào chỗ trang giấy trắng cho ông nhắm chừng mà ký tên nguệch ngoạc. Hoàn cảnh như vậy mà Ba tôi nhất định tự tay rán viết cho được bài thơ lên trang giấy, làm quà lưu biệt cho con gái.
Mọi người trong gia đình tôi, bất kỳ ai, nhỏ lớn gì cũng đều thương yêu chị. Chị là đóa sen trắng, là hạt lưu ly óng ánh của gia đình, là người con gái toàn mỹ và thuần khiết. Sự ra đi của chị là một vết dao cắt sâu vào trái tim mọi người trong gia đình tôi.
Ngày nay hiểu Đạo hơn, tôi biết được chị xong Nghiệp với chúng tôi nên đi. Tâm tôi an lạc hơn từ khi nghiệm ra điều đó.

5.
Có lẽ người có tuổi thường nhớ nhiều đến chuyện xưa, nhớ rõ ràng từng chi tiết một. Phải chăng là khởi đầu cho cơn bệnh lãng trí? Tôi bây giờ như vậy, nhớ nhiều và nhớ tỉ mỉ đến những ngày Tết cũ, nhớ từng khuôn mặt, thói quen của những người thân.
Trong khi Má tôi tất bật điều khiển người phụ việc trong chuyện bếp núc và bánh trái ăn Tết, thì Ba tôi thì lo đốc suất người phụ việc chăm sóc “sắc đẹp” cho nhà cửa: sơn phết, trưng dọn, lau chùi. Còn chị em tôi? Lớn hay nhỏ đều có phận sự. Riêng tôi vì quá nhỏ, phá hư nhiều hơn là giúp được việc nên “thất nghiệp”, chỉ biết lăng xăng theo chân Ba hay Má. Tôi rất là điệu hạnh nhưng cũng rất là lí lắt. Thông lệ nhà tôi, Tết đến mọi người đều mặc quần áo mới, đeo trang sức, để mang thịnh vượng cho suốt năm. Riêng tôi, đặc biệt ngày Tết, được sơn móng tay đỏ, quá sức là hạp với cái tính ưa trưng diện của tôi rồi.… nhưng thích nhất là tôi không bị bắt đi ngủ trưa, không bị cho lên giường sớm lúc tối, không bị rầy rà. Thật là thần tiên cho một đứa con nít như tôi, thường ngày hay bị “các ông anh bà chị khủng bố và trông chừng cẩn mật”. Mà lạ, thưở nhỏ, trông mòn hơi mỏi mắt mới thấy Tết . Bây giờ quay qua quay lại, hết một năm! Chị tôi kể rằng ông Nội tôi có dạy, thời gian và đời người như một cuộn chỉ. Khi chỉ còn đầy, kéo sợi chỉ ra, ta thấy lõi chỉ quay rất chậm (giống như khi còn trẻ, thời gian trôi rất chậm). Khi cuộn chỉ cạn, ta kéo chỉ ra sẽ thấy lõi chỉ quay rất nhanh (giống như khi ta có tuổi, thời gian trôi rất nhanh).

6.
Tính đến nay, tôi trải qua 34 cái Tết tha hương. Mỗi khi Tết về, lòng tôi nặng trĩu u buồn. Càng có tuổi, nỗi buồn càng sâu đậm! Luôn cầu mong có một ngày được về lại quê nhà Việt Nam ăn Tết.
Đọc tới đây, xin đừng nói câu vô nghĩa với tôi là …bây giờ Việt Nam tự do, người ta ai cũng về ăn Tết nườm nượp, không chịu về là tại mình, than thở trông ngóng là nghĩa lý gì?.
Đúng. Ai nấy về nườm nượp, nhưng vẫn còn những người như tôi, vọng bái cố hương tổ tiên từ xa vì tôi KHÔNG thể làm kẻ PHẢN BỘI màu cờ vàng của Việt Nam Cộng Hoà. Chính những chuyến máy bay đầy ắp những “khúc ruột ngàn dặm” là yếu tố gia tăng thêm sức mạnh bốc lột của đám tư bản đỏ ngày nay tại Việt Nam.
Xin cũng đừng nói tôi là động vật máu lạnh, quay lưng với quê hương. Không nhất thiết phải về lại nơi-gọi-là Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mới là người yêu quê hương, mới là ra tay giúp dân tộc khốn khó. Không quay lại Việt Nam khi còn cộng sản, lại càng không có nghĩa nếu bị gán cho là người có máu lạnh với tình tự dân tộc.
Tôi không bị mê hoặc bởi lời dụ dỗ “quê hương là chùm khế ngọt, già rồi cần về hái sớm, nếm vị ngọt, để không nuối tiếc khi nằm xuống; hãy hưởng thụ trước khi nhắm mắt xuôi tay”. Là con Phật, theo lời Phật dạy, cái sống cần có chính nghĩa, chính kiến, chính đạo và chính ngữ. TÂM và Ý đã ĐỊNH thì ngoại vật chỉ là KHÔNG. Tết tại nơi đây, dù hình thức có đơn giản đến thế nào, với lá cờ vàng chính nghĩa giương cao, vẫn hơn hẳn cái Tết phồn hoa giả tạo nơi quê nhà, khi mà đồng bào của tôi từ 40 năm nay vẫn còn đang bị bọn cộng sản Việt Nam và tư bản Đỏ thao túng xiết cổ.

7.
Tết Bính Thân 2016 năm nay lại thêm một lần gia đình tôi phải mời rước Ông Bà về cùng hưởng Xuân tha hương. Có lẽ Ông Bà cũng hoan hỷ, về chung vui ba ngày Tết nơi đất nước tuy lạnh lùng này nhưng ấm tình gia tộc. Ông Bà tôi chắc hẳn sẽ hãnh diện vì con cháu mình là người chung thủy, có trước có sau, ăn cơm Quốc Gia và nhớ ơn tiền nhân tổ phụ Quốc Gia.

lê ngọc tuý hương
ất mùi 2015

Image

Chúc Mừng Năm Mới

chuc tet

Tết đến, Xuân về

tdxv

(Bài viết cho Đặc San Người Việt Quốc Gia Montreal, Canada)

Năm nay tôi tròn một vòng 60 năm. Vui hay buồn? Theo tôi, lứa tuổi nào cũng có những cái hay của nó. Và mỗi độ xuân sang, mình càng nhích gần tới cuộc du lịch cuối đời của mình. Do đó cần phải ráo riết tận dụng khả năng, tiềm thức để “đánh bóng” cuộc đời mình trước khi quá trễ. Khi còn trẻ, chắc ai cũng háo hức trên ghế nhà trường, trung niên thì ráo riết trong nghề nghiệp, cạnh tranh ở trường đời. Sau đó, từ từ mỏi gối chùn chân theo sức khoẻ và tuổi đời. “Đánh bóng” với tôi là làm cho cuộc sống mình thêm ý nghĩa: cho mình, cho gia đình và cho đời. Hoàn toàn không phải “tận hưởng kẻo uổng” mà ngược lại là “tận tâm cống hiến kẻo uổng”

Có làm biếng làm nhác tôi cũng rán lo tươm tất mấy ngày Tết. Một phần nhằm gìn giữ tập tục ông bà, một phần muốn nhắc cho con tôi nhớ cái tầm quan trọng của ngày tư ngày tết trong truyền thống gia đình Việt Nam. Chuyện này coi như được viết trong cuốn tự điển to chảng của gia đình tôi rồi.

Đầu tháng 12 tây tôi đã lo tra lịch ta xem ngày giỗ ông Nội tôi trong tháng Chạp ta, ngày đưa ông Táo và 3 ngày Tết tương ứng với lịch tây như thế nào để thu xếp ngày nghỉ làm; ngày mua đồ đạc để nấu các món cổ truyền. Ở cái xứ khỉ ho cò gáy này, không phải búng tay là có những sản phẩm Á Đông! Rất nhiều thứ tôi phải đặt mua riêng với tiệm thực phẩm Á Đông (vốn nhỏ xíu). Hoa trái chưng cúng cũng phải cân nhắc mua lúc nào để được tươi tắn vào ngày Tết. Tết Việt Nam luôn rơi vào mùa đông tại Âu Châu. Nếu mua sớm quá, hoa quả sẽ không còn tươi đẹp do ảnh hưởng hơi nóng lò sưởi. Mùng một Tết mà bó hoa chưng bàn thờ “gục đầu thổn thức” thì coi như “xong tuồng” nguyên năm. Chưa kể cái màn mua hoa Forsythia (thế cho Mai), về nhà ép sao cho hoa nở vàng choé đầy cành để lấy hên vào ngày Mồng Một cũng là một “nghệ thuật”. Có năm tôi thất bại, hoa nở lác đác, thiệt tình, tôi lảo đảo như say cả năm! (dị đoan thứ thiệt!). Có người nói, rắc rối vậy thì đừng chưng hoa này cho yên tâm. Sao mà được! Tết không hoa mai vàng sao ra màu Tết? (dù chỉ là thay thế). Chuyện này không khác gì chuyện xin Xâm. Ai cũng sợ cây xâm xấu mà đầu năm ai cũng xin xâm! Theo Âu Mỹ là “no risk no fun” tôi sửa thành “no risk no luck”.

IMG_3440Hoa Forthysia thế hoa Mai vàng

Tôi luôn tự biên tự diễn các món Việt Nam cổ truyền của ngày Tết cho chắc ăn, như vậy vừa không sợ bị tổ trác đầu năm (như là mua trúng đòn bánh tét gói bị “nín”) mà vừa có thể tránh bị đầu độc bởi chất hoá học trong đồ ăn làm sẵn nhập cảng. “Bày vẽ” vậy nhưng tôi lại chẳng thấy cực chút nào, trái lại rất vui và ấm lòng tha hương. Nhiều bạn quen thường khuyên tôi kiếm người khéo tay đặt làm cho nó khoẻ, hà cớ chi cực khổ tấm thân. Họ không hiểu là những khi bày biện nấu giỗ hay nấu Tết, tôi như được sống lại cái không khí gia đình ấm êm hạnh phúc ngày nào tại Sài Gòn. Dường như là má tôi vẫn còn đây, cười nói huyên thiên, điều khiển cả nhà kẻ làm cái này, người nấu món kia. Trong mơ tưởng đó tôi cảm giác được niềm hạnh phúc vô biên của mình, thậm chí có khi cười một mình. Sau đó, khi quay về thực tại thì không nén được nỗi buồn tha hương biệt xứ của đứa con mồ côi. Tôi nghĩ rằng, nỗi buồn mồ côi cũng như nhau ở mọi lứa tuổi, có thể khi chính mình có con cái lại càng sâu thẳm hơn.

May mắn cho tôi là công tử nhà tôi lại thích nấu ăn (di truyền của cả cha và mẹ!) Cho nên, tôi cũng muốn làm để truyền nghề cho nó. Mà cái tánh ích kỷ muôn đời nằm trong DNA: “con nhớ cái này là bí quyết bà ngoại dạy cho mẹ, đừng kể cho ai nhen”. Cho nên kể từ ngày chàng có cái web về đồ ăn, hay hỏi tôi “Cái này dạy được không mẹ?” Tôi phì cười…kể ra nó cũng biết để ý để tứ, biết cái tánh “khó thương” của mẹ nó.

IMG_3557Mâm cơm ngày Tết (tự biên tự diễn)

Còn một chuyện cũng không kém phần quan trọng lắm đối với tôi khi Tết về. Đó là ngày khai đàn Đạo Tràng Pháp Hoa trên chùa. Từ chục năm nay, tôi đều cố gắng tham dự Đạo Tràng. Một ngày dài tụng trọn bộ kinh Đại Thừa này không phải “dễ nuốt”, nhưng thời kinh đầu năm cúng dường chư Phật sẽ mang lại cho tôi niềm tin và sức mạnh để đi suốt một năm dài. Ấy là chưa kể về chùa, gặp bạn đạo, nói chuyện vui, nhắc chuyện Tết quê nhà đủ làm ấm lòng kẻ tha hương giữa mùa đông lạnh.

IMG_0646Đạo tràng Pháp Hoa tại chùa Viên Giác (Hannover, Đức)

Khá lâu rồi, khi Tết về, bà con Việt Nam nơi này hay rủ nhau mua vé bay về Việt Nam ăn Tết. Tội nghiệp cho họ, phải “lặn lội về tới Việt Nam ăn Tết”. Ừ thì cũng hiểu cho họ, còn cha còn mẹ, nay có cơ hội thì về, trước thăm gia đình, sau thì hưởng Xuân. Nhưng nếu chỉ như vậy thì còn rán chấp nhận, nhưng không, họ kéo theo một tràng quảng cáo không công cho cái chế độ đỏ lòm bên nhà. Tôi dị ứng với những chuyện này nên thường giãn ra, né đi cho xong, nếu không, thế nào tôi cũng xách mé, đâm ra bực lòng mình đầu năm. Vào ngày thiêng liêng cần cho an lạc để suốt năm vui vẻ.

Viết tới đây tôi lại nhớ cái chuyện tin dị đoan thông lệ của má tôi: “Ngày Tết hễ vui thì vui suốt năm, có tiền vô thì sung túc suốt năm, có may mắn thì may mắn suốt năm”. Cho nên, Tết đến là bà châm đầy gạo, muối, đường. Bàn thờ chưng vun đầy lộc quả tươi, hoa đẹp, đủ màu. Tối kỵ không cúng chuối, không cúng cam vì sợ chúi nhũi, cam khổ (người Nam phát âm chúi hay chuối… same same như nhau!) Không quét nhà đổ rác (sợ tiêu hao) Có lần tôi cắc cớ hỏi bà “Vậy thì đánh bài gầy sòng đầu năm thua tiền thì sao?” Má tôi trả lời gọn ơ, “Thì coi như xổ xui, còn gì nữa?”

Nhớ lại tôi phục má tôi quá xá. Kiểu gì bà cũng ứng biến được, dù khi đám cưới với ba tôi, bà chỉ là một cô gái quê, chữ viết không hơn cái lá mít, quen chuyện đồng áng vườn tược hơn là cây viết tờ giấy.

Chuyện này nhắc tôi những ngày mới tới xứ Pháp. Má tôi phải đi học Pháp văn trong chương trình chính phủ Pháp giúp cho người tỵ nạn có bảo lãnh (khác với người tỵ nạn boat people, họ được chính phủ Pháp công bằng, giúp đỡ trên nhiều lãnh vực và lâu dài hơn). Ba tháng này má tôi giọt vắn giọt dài.Với bà thầy thì ít mà với ba tôi thì nhiều. Ba tôi vốn là thầy giáo tốt nghiệp dưới đời chính phủ Tây bảo hộ, nói tiếng Tây rào rào. Ông dạy má tôi chia động từ hoài không xong. Bà cứ lộn tùng phèo mấy cái thì quá khứ. Khi thì chia với être, khi thì với avoir… Tới một lúc nào đó thì ba tôi quên mất mình đang dạy vợ mà tưởng là mình đang dạy học trò… thế là có người ôm tập ra khỏi phòng, khóc ấm ức cho tới khi được ông thầy dỗ ngọt mới yên!

Ở xứ này, các món ăn cổ truyền, tôi còn rán làm được hết nhưng thật chịu thua món mứt. Tôi nhớ những thố mứt trong và óng ánh vàng bắt mắt, chẳng những thấy ngon lành mà ăn cũng “pas chê” của má tôi. Nhà tôi ngày xưa ở Sài Gòn không bao giờ mua mứt bán ngoài chợ. Má tôi duy nhất chỉ đặt người quen làm mứt bí và mứt củ năng. Mứt hột sen thì mua của tiệm Bảo Hiên Rồng Vàng. Còn lại thì nhà làm lấy như mứt dừa, me, mãng cầu, gừng dẻo và mứt trái tắc (loại mứt này của má tôi không tròn xoe, coi đẹp và chứa đầy đường ngọt như ngoài chợ mà là dẹp xuống nhưng còn đầy đủ vị chua ngọt và mùi thơm).

Qua đây má tôi có dạy cho tôi làm mứt Tết, nhưng khó làm quá, vật liệu khó kiếm đầy đủ và nhất là không thể áp dụng vào cách nấu tân tiến bếp điện thời nay nên tôi thật giơ tay đầu hàng.

Mùa đông năm nay tại đây ấm lạ lùng. Các củ hoa crocus ngoài vườn đang bừng dậy với những búp măng xanh mướt. Cuộc sống đang hồi sinh dưới nền đất khô và lạnh cóng. Tôi chợt nghĩ, hạnh phúc biết bao khi Tết này bỗng chợt nhận tin: Tự Do, Nhân Quyền, Hạnh Phúc và Công Bằng đã hồi sinh tại quê hương Việt Nam vốn đã khô cằn đầy máu và nước mắt 40 năm nay. Sẽ là cái Tết ý nghĩa nhất của cuộc đời tôi.

lê ngọc tuý hương
tháng chạp Giáp Ngọ 2014.

 

Tâm bút tháng một, hai không mười lăm, LNTH

tambutthang1,2015

Bây giờ là tháng 11 ta, còn dăm tuần nữa Xuân Ất Mùi sẽ về. Thường thì trước thềm năm mới, tôi luôn rộn ràng mừng Tết, nhưng năm nay thì khác hẳn. Bây giờ tôi không còn cái háo hức của thời trẻ con được áo mới, bao đỏ đầy tay; hay thời má đỏ môi hồng mừng Xuân về với trái tim đập mạnh những tiết điệu tình yêu. Thay vào đó, vướng bận những suy nghĩ, lo âu về thời cuộc đảo điên hiện tại trên thế giới; về 40 năm biệt xứ kể từ ngày giặc đỏ tràn vào miền Nam Việt Nam Cộng Hoà: 30.4.1975.

Một
Cuộc thống nhất xứ Đức và cuộc thống nhất tại Việt Nam

Sau 28 năm hiện hữu, bức tường ô nhục Bá Linh sụp đổ vào đêm mùng 9 rạng ngày 10 tháng 11 năm 1989, xoá bỏ chế độ cộng sản trên phần đất phía đông xứ Đức. Hai phần nước Đức hợp nhất thành một trong niềm hân hoan của người Đức và chắc chắn của rất nhiều người khác trên toàn thế giới.

Chế độ cộng sản tại châu Âu tan vỡ theo bức tường. Trên thế giới chỉ còn lại Cuba ở Trung Mỹ, cùng với 3 xứ tại châu Á “thoi thóp” níu kéo cái mộng tưởng “cộng sản”. Đó là Trung cộng, Bắc Hàn và Việt cộng. Tại những nơi này, chế độ cộng sản có thật sự tồn tại như giáo điều của Karl Marx, Lenine hay đã hủ hóa trở thành Tư bản đỏ?. Tầng lớp có quyền hành và tầng lớp có tiền của đang “nuôi nấng nâng đỡ” nhau để bóp chết đám dân ngu khu đen. Nghĩ cho cùng, lúc trước người ta hô hào san bằng giai cấp tư bản và tiểu tư sản chỉ là để ngày nay phát sinh ra giai cấp “thống trị” và “bị trị” mà thôi. Xưa kia giai cấp công nông được tuyên truyền cổ vũ phải “vùng lên làm cách mạng”, thật ra chỉ là để mở đường cho một ông chủ khác về thay thế, trăm lần tàn độc hơn ông chủ cũ. Viết đến đây tôi chợt nhớ đến tác phầm Animal Farm của George Orwell, phát hành từ tháng tám 1945. Một tác phẩm mà theo tôi, tác giả mô tả sinh hoạt trong một trại thú vật để gói ghém hình ảnh xã hội cộng sản của loài người.

Người dân Đông Đức rất may mắn. Khi xứ sở thống nhất, họ được đón ngay vào thế giới Tự Do với bàn tay mượt mà nhung lụa của Tư bản duy tâm bao dung. Còn Việt Nam, khi thống nhất thì rơi tỏm ngay vào địa ngục cộng sản. Miền Nam Việt Nam Cộng Hoà phải hứng chịu tù tội, thương đau, oan ức. Cả quê hương bây giờ càng lúc càng lún chìm trong tăm tối.

Tính tới ngày hôm nay, Đức thống nhất được 25 năm và Việt Nam thống nhất được 39 năm 3 tháng. Khi so sánh sự phát triễn về an sinh xã hội và kinh tế hiện tại của Việt Nam và Đức sau khi thống nhất, chúng ta sẽ đau lòng đến chết đi được. Nếu sự phát triển của hai xứ cùng chiều thì cho dù có sự chênh lệnh to lớn về vận tốc hay mức độ phát triển đến cỡ nào, đám sâu mọt ngu dân tại Ba Đình cũng có một chút gì để có thể khoe khoang khoác lác về đường lối cai trị của chúng. Đàng này, sự phát triễn cùa Việt Nam cộng sản đi theo chiều nghịch với một vận tốc rơi tối đa. Đám người hèn nhát kia đang đẩy dân tộc Việt Nam đi vào hố sâu địa ngục. Sự tham lam, dốt nát và bất tài của chúng đã tiêu diệt cả một dân tộc.

Ấy thế mà vẫn luôn có người tại hải ngoại hô hào cổ võ một cuộc sống chung hoà giải hoà hợp với Việt cộng, thậm chí còn mơ tưởng có thể đánh thức lương tâm của lũ chóp bu Ba Đình hầu xây dựng một Việt Nam Tự Do Độc Lập Nhân Ái Công Bằng. Sẽ hoàn toàn sai lầm nếu dùng trường hợp Đông Đức để biện minh cho sự hô hào cổ võ này. Lý do: khi thống nhất nước Đức, phần đất phía Đông được người dân và những nhà lãnh đạo phía Tây giang tay đón nhận. Hoàn toàn khác hẳn với tình trạng “thống nhất“ tại Việt Nam, miền Nam Việt Nam đã bị những tên lãnh đạo miền Bắc bóc lột và trả thù một cách bạo tàn thâm độc
Không những thế, cá nhân tôi nhìn thấy đây là một điều không tưởng vì lũ chóp bu Ba Đình chỉ là con chó trung thành và khiếp sợ oai lực của ông chủ lớn Bắc Kinh. Vị thế của Hà Nội và Bắc Kinh hiện tại khác hẳn tình hình của Nga sô, Đông Đức vào thời điểm 1985-1991. Ngoài ra cũng đừng nên quên hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, vị thế chính trị, tương quan giữa Đông Đức và Tây Đức khác với Việt Nam.

Hai
IS và thế giới tự do

Tôi không khỏi rùng mình chuyện họ chém đầu người ký giả Mỹ. Tôi thật sự không dám xem clip video đó. Con người ta có thể dã man tàn bạo đến thế sao? Thậm chí có những người sinh ra và lớn lên tại đây, được hấp thụ một nền giáo dục nhân bản tự do, nhưng vẫn bị “ma ám”, tình nguyện đầu quân đi chiến đấu cho IS. Tôi tự hỏi không rõ nguyên nhân nào có thể lôi cuốn họ “điên cuồng” đến như thế.
Niềm hãnh diện dùng máu người để củng cố một niềm tin tôn giáo. Thật quá sợ hãi ! Chúng ta đang ở thế kỷ nào đây?

Đầu năm dương lịch 2015 đã mở màn bằng cuộc khủng bố thảm sát tại Paris. Máu người tuôn chảy vì tự do ngôn luận. Nhóm người Hồi giáo cực đoan muốn dùng súng đạn để hủy diệt đệ tứ quyền. Thế giới bàng hoàng, sửng sốt. Nhưng trong đau thương đó, ngoài việc tưởng niệm những người đã nằm xuống vì tự do ngôn luận và những nạn nhân bị hoạ lây kéo vào cuộc, nước Pháp và thế giới, mọi tôn giáo, kể cả những người Hồi giáo không thuộc nhóm cực đoan, mọi dân tộc và mọi thành phần trong xã hội đã đoàn kết cùng mãnh liệt phản kháng và lên án hành động dã man này.

Tổng thống Đức đã phát biểu tại Bá linh ngày 13 tháng 1 năm 2015:
Chúng ta là một xứ Đức” (Wir sind Deutschland)
“bọn khủng bố muốn chia rẽ chúng ta nhưng cái chúng đạt được là cái ngược lại (Die Terroristen wollen uns spalten, erreicht haben sie das Gegenteil)

Sự kiện này đã làm giảm bớt rất nhiều sự âu lo của tôi cho thân phận tha hương của mình trên quê hương tạm dung. Tôi đã rất bận tâm từ khi chiến dịch PEGIDA nổi lên tại Đức. (Tại Đức không ít người hiểu rằng: mặt nổi phong trào này là chống Hồi giáo hoá châu Âu, nhưng mặt chìm tàng ẩn một mục tiêu khác.)
Vì ai mà hôm nay tôi phải mang thân chùm gởi để luôn lo sợ những trận cuồng phong thổi bay mình, tan biến trong đám bụi hồng trần?
Câu trả lời thật ngắn gọn:  Việt cộng

Ba
Nga và miếng đất béo bở Ukrain

Bàn cờ Nga-Mỹ-Châu Âu với con cờ Ukrain bao giờ thì tàn? Sẽ còn tốn bao nhiêu máu xương nhân loại? Ngày lại ngày qua, người ta vẫn tiếp tục dùng sinh mạng của người khác để làm phương tiện cho cái gọi là “hoà đàm”.
Trong chương trình Album 2014 của đài ZDF tại Đức, một lời bình luận về chuyến bay Malaysia MH 17 bị bắn rơi trên vùng trời phía Đông Ukrain vào tháng 7 năm 2014, làm tôi thật ngậm ngùi…người ta xử dụng mạng sống của 289 người dân vô tội từ mọi thành phần làm đồ chơi trong cuộc tranh chấp chính trị.

Bốn
Một con mèo bị nướng và văn hoá của một dân tộc

Tôi sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Nước tôi lúc đó triền miên khói lửa chiến tranh nên so với các xứ tư bản tân tiến, chỉ đứng ở một vị trí khiêm nhường. Dù vậy, trong mọi giao dịch quốc tế (du học, công vụ), người Việt Nam Cộng Hoà đều mang lại niềm hãnh diện cho quê hương.

Sau Quốc Hận 30.4.1975, người Việt Nam Cộng Hòa mất nước, trở thành dân tỵ nạn cộng sản. Cộng đồng người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản trên thế giới hay tại xứ Đức luôn cố gắng hoà nhập vào xã hội bản xứ, sống theo đúng nguyên tắc với niềm tự hào của dân tộc và của cá nhân. Riêng tại xứ Đức, người Việt Nam tỵ nạn cộng sản còn được dân bản xứ biết nhiều qua cái tên con tàu Cap Anamur. Người dân bản xứ và người Việt Nam tỵ nạn sống bình an trong niềm kính trọng và yêu thương giúp đỡ nhau.

Hiện tại người Việt Nam tại Đức còn nổi danh thêm như cồn! Thưa đúng, người Đức ở đây nhập cục thành một, gọi chung là “người Việt Nam”, bất kể những người đó trước khi đến Đức đã sinh sống ở đâu và đến Đức trong hoàn cảnh nào. Sau ngày thống nhất nước Đức, người Việt màu Vàng tỵ nạn cộng sản bị trộn lộn với người Việt màu Đỏ từ miền Bắc tới và người Việt màu Hồng từ miền Nam Việt Nam Cộng Hòa nhưng không rõ lằn ranh Quốc Cộng, (chú thích: đây là các cách gọi của cá nhân tôi dùng để phân biệt các nhóm người Việt). Người Việt lâu nay vang danh do có rất nhiều cá nhân đạt được thành quả vượt bực trong học đường, thể thao, hội nhập và sinh hoạt tích cực trong mọi hoạt động thuộc về an sinh xã hội v.v… Thậm chí còn có người được tưởng thưởng huy chương cao quý của chính quyền Đức. Nay thì ôi thôi, tiếng tăm vang dậy thêm nhờ tài đâm chém, buôn bán lậu thuốc lá, buôn người, trồng “cỏ”. Gần đây lại “được vinh hạnh” lên báo vì chôm chỉa mèo hàng xóm nướng ăn!

Niềm vinh thì bọn không công được hưởng ké. Nỗi nhục thì nhóm vô tội chịu họa lây.

Tôi chỉ còn cách cố gắng sống một cuộc sống theo đúng luật lệ hiện hành, cư xử theo đúng trách nhiệm, lương tâm và đạo đức của một con người được đào tạo dưới nền giáo dục Việt Nam Cộng Hoà để không làm hổ thẹn tiền nhân và đấng sinh thành. Tôi luôn khẳng định với những thân hữu bản xứ hiểu về sự phức tạp của cái mà họ cứ gọi chung “người Việt Nam”. Tôi kiên nhẫn giải thích cho họ hiểu tường tận và yêu cầu họ phân biệt rõ ràng các khối người Việt trên xứ Đức.

  • Tôi là người Việt Nam tỵ nạn cộng sản. Cộng đồng của tôi đứng dưới lá quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà màu vàng và 3 sọc đỏ.
  • Nhóm người đứng dưới lá cờ máu, không cùng ý thức hệ với tôi,
  • và đặc biệt người Việt Nam nào không chọn đứng dưới lá cờ nào, cũng chưa thể khẳng định họ cùng ý thức hệ với tôi.

Và cuối cùng, tôi nói với các thân hữu bản xứ, tôi sẳn sáng hầu chuyện với bất kỳ người nào đưa ra lời giải thích khác hơn lời giải thích của tôi.

Viết đến đây, tôi lại nhớ tới những lời xa gần, những phong trào nhỏ lớn phản đối nghi lễ chào cờ Việt Nam Cộng Hoà trong các cuộc Đại Hội Ái Hữu cựu học sinh có tầm vóc toàn trường hay trong phạm vi lớp, với một chương trình tổ chức chính thức (xin nói rõ, không phải là một nhóm nhỏ của lớp độ dăm ba người gặp nhau thăm hỏi). Các vị ấy quên rằng, trong trận chiến Chiến tranh Chính trị và Tư tưởng Quốc Cộng vô cùng gay cấn hiện nay, lá quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà xác định chiến tuyến của bạn thuộc cánh nào. Một đám cộng sản chính quy chỉ trương lá cờ máu. Ý nghĩ từ chối lá cờ luôn luôn có trăm ngàn lý do để nguỵ biện, mà cái thường nghe nhất là vì họ “nghĩ đến an nguy của bạn bè từ trong quốc nội đến tham dự”. Thật có lòng!!!.
Nếu thực tâm nghĩ đến bạn bè và muốn che chở cho nhau, tôi không nghĩ là không có cách khác. Theo tôi chỉ là viện cớ để che dấu dã tâm toan tính một điều lợi nào đó cho cá nhân họ mà thôi.
Nghịch lý một điều là khi người quốc nội tổ chức các cuộc họp mặt, treo nhan nhản cờ, hình, khẩu hiệu cộng sản, người từ nước ngoài về tham gia, vui vẻ cười duyên chụp hình mà chưa bao giờ tôi nghe người quốc nội đặt vấn đề bạn mình là dân tỵ nạn, chụp hình có cờ, hình cộng sản, sợ cho bạn mình khi trở về sẽ bị sở di trú quốc gia cho tỵ nạn làm khó dễ !!!

Năm
Sinh viên HongKong.

Tôi có đến HongKong hai lần khi mảnh đất này chưa bị trao trả cho Trung cộng. Lần đầu tới đây, khoảng tháng 10 năm 1994, tôi vẫn còn nhận ra phần nào mùi tự do tại đó, mặc dù người ta đã bắt đầu ồ ạt xin đi chính thức, di cư ra khỏi HongKong. Đời sống vẫn còn bình yên và tràn đầy sắc thái ồn ào, nào nhiệt. Mọi sinh hoạt vẫn bình thường.
Hai năm sau, hè năm 1996 tôi ghé lại Hongkong vài ngày trên chuyến bay đi Nam Dương, thật buồn… Tôi sống lại hình ảnh của Sàigòn vào những ngày của tháng 3 năm 1975. Người HongKong bỏ đi nhiều lắm. Những căn nhà thật nguy nga tráng lệ bỏ hoang vô chủ dọc bờ biển trên bán đảo Victoria. Các khu thương mại sang trọng bán hàng mắc tiền sầm uất của HongKong không còn dáng vẻ cũ, đồ đạc đại hạ giá tối đa, ngập đầy những khách hàng, thay vì xách ví, ăn mặc lịch sư thì chỉ còn là những người đi dép và xách giỏ đi chợ. Thờ ơ vô tình tới đâu cũng nhận ra cái không khí nặng mùi này. Tôi gọi đó là mùi tử khí của cộng sản!

HongKong trở về với “Mẹ” Trung cộng ngày 1.7.1997.
Đứa con nào vui? Đứa con nào buồn?
Có lẽ lịch sử của Việt Nam tái diễn mà thôi.

Cuối tháng 8 năm 2014, sinh viên HongKong biểu tình đòi quyền tự do dân chủ trong việc bầu cử.
Họ cũng như đồng bào tôi tại quê nhà Việt Nam đang dùng chính mạng sống mình làm vũ khí chiến đấu với kẻ ác cầm súng đạn, dùi cui, để đòi quyền làm người tại Việt Nam.
Tôi ngả nón trước những cử chỉ anh hùng này và hết lòng yểm trợ trong khả năng của mình.

Sáu
40 năm quốc hận

Thời gian 40 năm nhanh như một chớp mắt cho những việc không chờ đợi, nhưng thật là dài, như bốn thế kỷ khi mình mòn mỏi ngóng trông một thay đổi.
Lũ giặc đỏ đã chiếm Việt Nam Cộng Hoà 40 năm. Thời gian đủ cho một thế hệ sanh ra và trưởng thành sau 30.4.1975 không còn biết gì về Việt Nam Cộng Hoà, nếu bậc gia trưởng không nhắc nhở. Ngậm ngùi quá !

Tôi không biết họ nghĩ gì, những người đã rời bỏ quê hương chấp nhận hy sinh mạng sống vì chính họ muốn tìm Tự Do sau ngày 30.4.75 và bây giờ trở lại Việt Nam chỉ với mục đích tìm Vui. Họ thật sự nghĩ gì?

Ở đây có một điểm đáng nói là ngoài hành động đâm sau lưng Quân Dân Cán Chính, vô ơn hất đổ chén máu vị quốc vong thân của những bậc tiền nhân anh hùng dựng nước và giữ nước, họ còn chê bai nhạo báng, phê bình những người vạch rõ lằn ranh Quốc Cộng, dứt khoát không quay trở lại nơi mà Việt cộng đang tung hoành thống trị. Một trong những ngụy biện… quê hương sao mà quên được, sao mà bỏ được?, chống hoài cũng không tới đâu! về để giúp dân, thậm chí có người nói, trong mắt họ không có lá cờ cộng sản mà chỉ có người dân đáng thương! …Họ làm sao biết được nỗi lòng của chúng tôi?

  • Không quay về, không có nghĩa xoay lưng bỏ mặc đồng bào đang chịu khổ đau dưới gông xiềng cộng sản.
  • Chống Việt cộng không có nghĩa chống lại người dân đang ngậm đắng nuốt cay bên kia đại dương. Không chấp nhận cộng sản trên mọi hình thức không có nghĩa là máu lạnh và khát máu.
  • không về tận nơi lại càng không có nghĩa là không thể nào giúp đồng bào bất hạnh trong nước.

Thật đau lòng vì vấn nạn này trong cộng đồng Việt nam tại hải ngoại.

Những chuyến bay về Việt Nam của tất cả các hãng hàng không luôn đầy ắp người Việt, nhất là vào dịp tết. Chẳng lẽ một vết sẹo sâu tới tim lại có thể bị xoá nhoà trong vỏn vẹn 40 năm. Việt cộng xử dụng chén cơm Pavlov thật tài tình để làm quên hẳn một dĩ vãng đen tối.

May mắn thay bên cạnh tôi vẫn còn những tâm hồn Quốc Gia khả kính, vẫn còn những chiến hữu cùng lý tưởng đang cùng tôi thắp sáng những đốm lửa nhỏ để làm cháy sáng hào khí Diên Hồng tranh đấu cho một Việt Nam Tự Do.
40 năm đã đủ đợi chờ. Chúng ta, những người còn sống hôm nay chắc không ai muốn bỏ nắm xương tàn nơi đất khách.

lê ngọc tuý hương
tháng một, hai không mười lăm.

Tag Cloud