VIỆT NAM CỘNG HÒA

Archive for the ‘DU LI’ Category

Trở Về Gặp Lại – của June Nguyen

Tôi lên Tu viện Kim Sơn lần này để gặp lại Thầy, nghe Thầy dạy tu cấp tốc một ngày cho mấy trăm Phật tử.

Có anh bạn bảo tôi :”Ông ấy viết thì hay nhưng không phải là người hùng biện.”

Thường khi đi nghe thuyết giảng, người ta nghe qua tai, bằng óc. Óc ghi nhận rồi dùng ký ức so sánh. Rồi phê phán. Mong đợi. Vấn đề nói hay và hùng biện được đặt ra. Vì nếu chỉ dùng óc mà nghe không thôi, thì thường người ta thích nghe những danh từ đẹp và kêu, thích vờn chơi với những tư tưởng cao xa, phức tạp và khó khăn. Vì óc người thích những bài toán rối để chơi trò giải toán. Để cảm thấy trong giấy lát một sự yên chí tạm bợ về mình. Là mình biết, mình thấy, mình giỏi, mình tồn tại, v.v…

Nhưng còn một lối nghe khác, không phải chỉ bằng óc, mà bằng cả con người mình. Nghe những cảm xúc tiếp nhận được. Để thấy mình lắng xuống, dịu dần hay sôi sùng sục, tán loạn khi những danh từ dùng, giọng nói và cả con người dáng điệu của diễn giả lọt qua tai, mắt mình, lên óc và tràn xuống toàn thân qua cảm xúc.

Tôi thấy không cần hùng biện. Nắng sớm mai trên những lá cải hoa vàng không cần hùng biện về những cái đẹp của ngày mới. Nên sự giản dị của Thầy thật là thích và dễ chịu. Giản dị như nắng sớm mai. Thầy nói tập thở và theo dõi hơi thở. Thật giản dị và hiển nhiên. Hiển nhiên như chuyện “mặt trời mọc buổi sáng.” Trong cái hiển nhiên của hiện tượng mặt trời và buổi sáng, tôi thấy cả một cảnh tượng huyền diệu mở ra. Một phương đông bừng sáng. Chim hót. Cây cỏ của mình, vươn lên. Thảm cỏ với hàng triệu hạt sương đêm lấp lánh biến thành một thảm kim cương. Muôn màu huyền diệu. Người nhà nông lũ lượt ra đồng, chuyện trò. Trẻ con đi học. Mỗi người là cả một vũ trụ cần quan sát. Mỗi em bé là cả một tương lai chưa khai phá.

Theo kinh nghiệm riêng, những điều Thầy nói giản dị và hiển nhiên như chuyện “mặt trời mọc. Buổi sáng”, hoặc “mặt trời lặn, Buổi chiều.” Nếu nghe và dừng lại ở đó thôi thì đúng là chẳng có gì lạ. Nhưng nếu tiếp tục nghe, những âm vang của câu nói đó sẽ đem lại trước mắt ta một cảnh tượng nhiệm màu, vạn vật móc nối, chiếu dội vào nhau làm nên cả thế giới này. Một sự giản dị hàm xúc. Bao chứa tất cả. Một sự hiển nhiên tuyệt diệu.

Thầy dạy thở và theo dõi hơi thở. Nghe giản dị quá vì theo dõi hơi thở thì có gì lạ. Hiển nhiên quá vì ai mà không thở. Nhưng nếu đợi thêm một phút, nhìn sâu một chút thì thấy hơi thở đó là thân tâm con người, và sự hiện diện của vũ trụ này. Từ thân tâm ấy nảy sinh ra làng mạc, thành phố, xe hơi, máy bay, hỏa tiễn. Cả cái thế giới ta bà này cũng từ thế giới con người mà ra. Hơi thở dung dưỡng con người. Hơi thở gây chiến tranh. Tàn phá. Đau khổ. Hơi thở xây dựng, đem thương yêu hạnh phúc.

Thầy dạy điểu giản dị và hiển nhiên. Sự giản dị này cần thiết để đưa ta về nguyên thủy. Trở lại những gì căn bản nhất của con người và đời sống. Cái căn bản nguyên thủy mà từ đó tất cả mọi sự nảy sinh. Rồi phóng ra, càng ngày càng xa gốc. Thầy dạy mình nhìn vào gốc. Căn duyên tôi khiến tôi rất thích học lối nhìn vào tận gốc Thầy dạy.

Nên Thầy dạy theo dõi hơi thở. Theo dõi thì thấy là mình thờ từ lỗ mũi. Cánh mũi nở ra xẹp vào. Tiếp tục thở và theo dõi thì thấy hơi thở của mình từ ngực. Lồng ngực trồi lên xẹp xuống. Thở dài thêm rồi tiếp tục theo dõi thì thấy hơi thở của mình bắt nguồn từ phía rốn. Thấy dạ dày nở ra, co lại. Cứ thở mãi, thở đều dần và theo dõi thì có lúc bắt gặp hơi thở của mình ở đầu ngón tay, trên bắp thịt vai, trong mạch máu. Sẽ bắt gặp rất tình cờ những cảm xúc rất khác lạ trên thân thể. Những chuyển hóa của thâm tâm bắt đầu từ việc theo dõi hơi thở và chuyên cần theo dõi. Vì thế tôi không còn thấy những điều Thầy nói giản dị và hiển nhiên khi mới nghe Thầy đã vội vã bình luận hời hợt. Những điều Thầy nói như một cánh cửa gỗ mộc. Đẩy cửa ra. Đằng sau là cả một không gian bất tận, diệu huyền. Để thám hiểm, để chiêm nghiệm.

Thầy dùng danh từ giản dị bằng chọn lọc và rất thật, mà vẫn đượm chất thơ. Chữ Thầy dùng thật như hơi thở. Không phải kiểu văn chương “trên nát bàn cỏ cây xanh như ngọc bích, mọi vật trong như lưu ly hổ phách.” Thầy không dùng từ chương đưa người nghe vào vọng tưởng, phí phạm năng lượng vào việc chạy theo hình ảnh của những vọng tưởng đó. Thầy ít dùng chữ Nho, tránh cho người nghe chuyện dịch nghĩa. Giúp cho người nghe chú tâm vào việc hiểu thay vì vào việc đánh đu với chữ nghĩa. Thầy đi thẳng vào vấn đề, chiếu đèn pha vào từng điểm giúp người nghe nhìn rõ nên tránh được chuyện lạc chạy quanh hình ảnh, chạy theo âm thanh. Trí thức người nghe được giải phóng. Có năng lượng dồi dào để đi từ những sự thật giản dị và căn bản đó khám phá, khai phóng và chiêm nghiệm những sự thật căn bản khác từ bản thân mình và tùy theo căn duyên của mình.

Tôi thích nghe Thầy ở chỗ đó. Cho dù là Thầy không hùng biện như lời phê bình của anh bạn tôi. Cũng như và bởi vì tôi thích nghe tiếng chuông hơn là tiếng trống. Tiếng trống nghe to nhưng ngắn. Tiếng chuông nhẹ hơn nhưng ngân vọng rất dài. Âm thanh đưa người nghe trở về những nơi chốn ban đầu.

Sự thật tôi đi Kim Sơn không phải để cốt nghe Thầy giảng pháp và dạy Thiền. Bởi vì những điều căn bản Thầy nói đã có ở trong sách Thầy viết. Có nhiều điều Thầy nói có thể thấy ở trong những cuốn sách khác đã từng đọc. Như cặp vợ chồng đi đằng trước tôi nói chuyện với nhau sau buổi nói chuyện của Thầy: “thì những điều Thầy nói mình cũng biết rồi. Có điều là Thầy khai triển thêm ở một vài điểm nên thấy hay…”

Có cô bạn hẹn hò mãi để lên Kim Sơn nghe Thầy vì cô nghe những người bạn khác ca tụng Thầy. Cuối cùng vì “bận quá” cô ở nhà và dặn tôi: “có đi thì mua hộ vài cuốn sách của Thầy. Bạn đi rồi về kể lại cho tui nghe.” Nhưng tôi không mua sách hộ cô vì tôi không muốn cô vớ lấy sách ngấu nghiến đọc cho thỏa chí tò mò và chờ đợi. Rồi buông sách thất vọng vì thấy “cũng không có gì lạ. Cũng là những điều mình biết cả rồi. Thầy chỉ nói một cách hấp dẫn hơn.” Thế là hỏng bét. Chẳng thà để cô tò mò mong đợi. Giữ cho bấc nến khô, Đến khi nào cơ duyên tới cô được gặp và nghe Thầy, biết đâu lửa sẽ nhúm sang. Thắp sáng lửa tâm cô. Vì thế Kim Sơn có bán đầy sách của Thầy tôi cũng không mua cho cô cuốn nào. Nhưng tôi đã mua sách cho Bố tôi sau khi ông Cụ đã nghe Thầy trọn ngày hôm đó và có được đứng gần chào hỏi Thầy một hai phút.

Tôi cũng không kể được cho cô nghe những điều tôi nghe Thầy nói. Bời vì tôi đã không nghe Thầy nói bằng phán đoán, kết luận và ghi nhận vào ký ức của óc tôi mà thôi. Tôi đi để nghe Thầy bằng toàn thân tôi. Bằng mắt nhìn vào con người Thầy. Vào đôi mắt thật từ bi. Nụ cười trong sáng của trẻ thơ. Bước chân thật nhẹ như không chạm đất, thanh thoát nhưng vững chãi từng bước một. Tôi nghe chân tôi muốn bước theo mỗi lần nhìn thấy Thầy đi trên còn đướng đất nhỏ, lưng hơi cong cong, một mình. Tôi nghe thấy những bắp thịt trong người dãn lỏng ra. Máu chạy chậm lại, loãng ra. Những tế bào chạy, tốc độ chậm lại. Thấy lòng mỉnh rộng mở hơn, kiên nhẫn hơn và thương yêu mọi người hơn.

Thầy dùng ngôn ngữ thuyết giảng cho trí thức người nghe đón nhận. Nhưng Thầy còn thuyết giảng bằng toàn thân Thầy. Người nghe phải dùng chính và tất cả con người mình để chứng nghiệm. Chứng nghiệm sự hiện thân của từ bi và an lạc mà Thầy giảng dậy. Mà Thầy đã thực hành bằng cả con người và đời sống của Thầy. Mà Thầy đã đạt tới và thể hiện qua đôi mắt, nụ cười và bước chân đi. Tôi thích nhìn thấy những điều tôi nghe. Tôi dạy trẻ con hiện tượng cây, bằng cách cho mỗi cô chú bé một hạt đậu xanh đặt nằm lên trên một nắm bông gòn tẩm nước, để trong bao nylon trong và treo lên cửa sổ kính. Mỗi ngày cho bọn trẻ nhìn bao nylong thấy hạt đậu nứt ra, thành đầu mũ, rồi đến hai lá xanh, và tý rễ trắng tươi. Thích gấp trăm lần giảng chuyện gieo hạt nẩy cây.

Tôi từng chiêm nghiệm thấy là một người nói thương yêu không thể có một bộ mặt nhăn nhó, cau có được. Nếu mắt đăm chiêu đục đỏ và mặt co dúm, thì tức là người đó chỉ nói mà không thực hành sự thương yêu đó. Chỉ tu thương yêu mà không hành thương yêu. Thương yêu vẫn là một ý niệm ở trên óc, mà chưa thể hiện được vào toàn thân, đời sống. Như ăn bao nhiêu thức ăn tươi bổ dưỡng, nhưng không tiêu. Bổ dưỡng vào, bổ dưỡng ra, nên da dẻ vẫn bì bịch, bủng beo. Như một người tu Phật không thể có một đời sống bừa bãi, luộm thuộm. Nếu không người đó chỉ tu mà không hành.

Mình đã nghe nói nhiều về chuyện cần tu, phải thiền, tụng kinh này, kỹ thuật kia. Phật tánh ở trong anh chị, trong tôi, trong chúng ta. Nghe nhưng nhiều khi thấy mình bán tín bán nghi. Vì không biết hư thực. Nhìn Thầy để bớt bán tin bán nghi, để biết Phật tánh là thực, là cơ thể phục hưng. Nhìn sự an lạc của Thầy như thấy mùi hương trầm, muốn tìm về nơi khói hương đó. Cũng như nhìn thấy đức Dalai Lama để thấy hiện thân của Thương yêu. Để thấy lửa nhúm sáng một cọng rơm khô nằm đâu đó sẵn sảng, cho Lòng Từ sáng lại.

Từ xưa tới nay người mọi xứ thường đi hành hương tới đất Thánh, hay đi gặp mặt thánh nhân là thế. Đi để nghe thánh nhân bằng cả 5 giác quan, bằng óc và bằng cảm xúc của mình. Thời đại ngày nay tràn ngập sách báo, băng thu và truyền hình, nên càng cần hành hương hơn.

Lên Kim Sơn không phải là để thu thêm một số kiến thức, kỹ thuật và hình ảnh, cất vào ký ức rồi thình thoảng đem ra kể lại, đề nói thích quá, hay quá như  kể chuyện một chương trình TV hấp dẫn đã xem, một truyện hay mới đọc. Đi Kim Sơn để gặp Thầy, để lửa Thầy truyền sang dầu bấc nến của mình cho lửa nhúm lên. Đi gặp Thầy để nhúm lại cụm than bọc đầy tro. Cho hồng lên, cháy lại.

Tôi trở lại Kim Sơn để gặp Thầy. Tôi đã gặp lại Thầy. Như tôi đã gặp lại Tôi. Một quê hương luôn luôn ở đó không thể mất. Chỉ có mình đánh mất đi. Rồi cũng chỉ có mình phục hồi được. Không ai có thể mang cho mình quê hương đó. Cũng như không ai có thể bước đi hộ chân mình. Dù là Phật. Dù là Thầy. Chỉ có thể thấy Thầy đi lưng cong cong một mình trên con đường đất nhỏ, rồi bỗng thấy chân mình nhấc lên, đặt xuống. Một bước đi thứ nhất trên con đường có hoa sen nở dưới gót chân. Bắt đầu một cuộc hành hương về nơi quên hương đánh mất.

June Nguyen (6/1986)

Advertisements

Thơ Du Li : An ủi – Gia tài – Chào

An Ủi

Trong tĩnh lặng tôi đã gặp tình yêu Thánh Chúa
Dâng tâm thành lên đức Quán Thế Âm
Tôi đang nằm yên
Tận hưởng tình người
Qua những nắm tay giao cảm
Qua ánh mắt chan hòa cả hồn người tinh khiết.
Tôi đang nằm yên
Nghe cơn đau thể xác
Và thấy hồn mình
Nhập vào vùng tĩnh lặng
Nhịn cơn đau với ấp ủ xót thương.

Gia Tài

Khi ra đi
Sẽ không có gì mang theo
Ngoài tâm thành giải thoát


Không có gì để lại
Ngoài thương yêu
trả lại cho đời.

Chào

Tạm biệt nhé !
Những ân cần tha thiết,
Những ngọt ngào, những chia sẻ đầy vơi.
Nơi đây chúng mình đã ghé ngang chơi
Đã thỏa thê cả tiếng cười và nước mắt.

Thôi nhé !
Tiếng tù và nghe văng vẳng đâu đây
Đã đến giờ Mẹ gọi
“Chơi thế đã đủ rồi
về nghỉ đi con”.

6/1993

Về Hạnh Bố Thí — Tùy bút của Du-Li

 

 

Có một lần đi xe hơi với cậu em từ San Francisco về Los Angeles khoảng mười một năm trước, cậu đề nghị giúp tôi phương tiện để “chị muốn làm gì thì làm, như viết sách chẳng hạn. Để chị không phải vội vã đi kiếm việc lo chuyện sinh kế.” Hồi đó tôi mới nghỉ việc ở một hãng nọ, dọn về sống với bố mẹ tôi lúc đó đã già. Tôi từ chối ngay đề nghị đó. Viện nhiều lý lẽ, trong đó có lý “chị còn khỏe mạnh thì đi làm chứ. Sao lại để chú nuôi nhỉ?” Hồi đó cậu mới ba mươi mốt tuổi, là kỹ sư, không thích nói chuyện triết lý, và hoàn toàn không biết đạo là gì, nhưng không biết từ đâu mà cậu bảo tôi : “Cả đời chị đã giúp chúng em rất nhiều, bây giờ em chỉ muốn giúp lại chị một chút thôi, trong lúc này khi hoàn cảnh cho phép. Chị biết cho thì phải biết nhận chứ! Nếu không biết nhận thì chưa chắc đã biết cho!” Tôi tiếp tục biện luận hăng hái hơn trên suốt đoạn đường còn lại. Về chuyện “thấy vui khi cho và không nhận vì không thấy cần, không muốn ỷ lại vào ai, chứ không phải vì tự ái.” Không biết tôi thuyết phục cậu hay thuyết chính mình!Nhưng câu nói “không biết nhận thì cũng không biết cho” của cậu bỗng dưng in chặt vào đầu tôi. Nằm trong đó cùng với những câu “từ nhãn thị đại chúng”, “hãy nhìn đời bằng một con mắt lạnh như tro tàn và một trái tim nóng hổi”, v.v… mà tôi đã thu thập trong những sách thiền từ hồi nào.

Rồi có một lần đọc được một truyện ngắn của chị bạn viết là hồi Thầy Thiên Ân sắp mất, chị thường hay lại thăm Thầy và rất buồn khi thấy bệnh thân thể Thầy đau đớn. Chị thường khắc khoải không biết làm gì để Thầy vui, để Thầy bớt đau. Một hôm khi chị hỏi “Thầy muốn con làm gì” thì Thầy bảo chị đi mua cho Thầy chiếc mũ đội cho ấm đầu. Hôm đó là ngày cuối tuần. Đã bảy giờ tối. Các tiệm lớn đều đóng cửa. Nhưng Thầy muốn chị đi mua ngay. Chị đành chạy ra tiệm Thrifty lúc đó còn mở cửa mua chiếc mũ đem về. Thầy nhận và tỏ vẻ vui. Còn chị thì rất vui vì làm được một việc vừa lòng Thầy.

Sau đó ít lâu Thầy qua đời. Và khi chị tới giúp dọn dẹp phòng Thầy ở cũ, chị thấy ở trong tủ Thầy có cả tá mũ đủ loại rất đẹp. Chiếc mũ của chị mua biếu Thầy hôm đó trông tầm thường nhất. Chị chợt tỉnh ra. Nhìn thì tưởng chị làm CHO Thầy vui. Chị là người làm phước. Thực ra chính Thầy cho chị cơ hội để chị được vui một lần chót với Thầy. Để chị được phước báu. Chính chị là người NHẬN, người được, người thụ ơn. Từ kinh nghiệm đó chị nhận và biết là trong cuộc đời nghĩ tới cùng thì nhiều khi người cho lại chính là người nhận. Người nhận là người cho. Không biết ai là ai. Và ai phải cám ơn ai. Thôi thì cứ cám ơn nhau vậy. Và cám ơn Đời.

Không hiểu sao tôi thích truyện đó vô cùng. Lâu lâu đem đọc lại. Đến nhập tâm. Nhưng trong đời sống hàng ngày vẫn thích LÀM CHO người khác, chứ không thích ai làm cho mình điều gì nếu tôi có thể tránh được. Cái tính này phải nói tôi “thừa hưởng” của ông bố. Hơn mười năm sống gần Cụ tôi nhìn thấy thật rõ ràng. Cả cuộc đời Cụ hy sinh cho vợ con. Giúp đỡ mọi người mà không kể ơn. Đến lúc già không còn quyền thế để giúp người như trước thì Cụ lại chắt chiu, tiết kiệm chi tiêu, dành tiền dưỡng già gửi giúp đỡ họ hàng. Cụ cất và xếp những thư đầy tình cảm ơn nghĩa từ Việt nam gửi sang đầy chật ngăn kéo. Nhưng Cụ không thích phải “nhờ” con cái điều gì. Mặc dầu Cụ để tôi lái xe đưa đi bác sĩ, đi nhà thương, hay đi thăm mấy bà cô ở quận Cam, nhưng bao giờ Cụ cũng nói “lúc nào tiện.” Nghe giọng thấy như miễn cưỡng. Những năm đầu Cụ không nói cám ơn. Cho đến mãi gần đây khi Cụ đã đọc kinh sách Phật thật nhiều tôi mới nghe Cụ nói “Thank you” với con cái. Ở nhà Cụ vẫn nhất định tự đun lấy nước sôi đổ vào bình. Tay Cụ run run nhiều lúc nước rớt ra ngoài. Tôi và cô em đã nhiều lần dặn “Cậu để đó chúng con làm cho. Không có lỡ bỏng thì phiền lắm!”

Bao giờ Cụ cũng trả lời “tôi làm được mà!”

Dần dần tôi thấy rõ là dù đã ngoài tám mươi, Cụ vẫn không thích ai LÀM CHO mình cái gì nếu Cụ nghĩ là Cụ còn làm được. Phiền là nhiều lúc Cụ ước lượng sai về sức mình. Có thể là vì Cụ vẫn thấy chuyện Cho và Nhận, Người và Ta thật khác biệt, thật minh bạch như chuyện Ngày Đêm chăng. Tôi thỉnh thoảng cũng than phiền Cụ về chuyện này với các em. Vì tôi bắt đầu thấy là những phân biệt rõ ràng như Trắng Đen của mình và người đời, nhiều khi lại chưa hẳn là như thế.

Bắt đầu biết chuyện phân biệt Cho với Nhận chỉ là sản phẩm của “cái tôi” đầy tự ái, mà thực ra cả hai chỉ là một. Biết thế mà tôi vẫn bắt gặp mình “dẫy nẫy” lên mỗi khi các em tôi cho quà, và cứ thanh minh thanh nga là đã từ lâu mình không còn tự ái nữa. Biết thế mà tôi vẫn ghi sổ ký ức tên ân nhân và nóng lòng tìm cơ hội trả nghĩa. Cũng lại thấy rõ ràng là mình suy nghĩ và hành xử không đồng nhất. Cũng lại thấy lòng hơi bực bội mỗi khi nghe cô em út say sưa nói về chuyện “có đi có lại.” “Give and Take” như là một bí quyết giao tế tối thượng trên cõi đời này. Bực nhưng chưa thấy tại sao mình bực. Có thể là vì chính trong lòng mình đang có tranh chấp về chuyện cho và nhận, chuyện ban ơn và thụ ơn chăng?

Cũng trong thời gian đó thỉnh thoảng tôi đi Oxnard thăm những ruộng rau. Ngày chủ nhật thiên hạ đi nhà thờ, đi chùa hay đi Bolsa ăn phở, thì tôi đi mót rau. Những ruộng rau nhà chủ vườn đã gặt xong, bỏ lại những cây rau không đủ tiêu chuẩn đầy ruộng, để mặc cho đến mùa sau. Tôi tới ngồi giữa ruộng rau ngắm những cây rau còn đầy sức sống. Những tàu lá phía ngoài xoè thẳng, thật xanh, có gân trắng chằng chịt như những nét họa tuyệt diệu. Như mạch sống đang trào ra ôm ấp bông súp lơ trắng tinh lấp ló bên trong đợt lá non chúp đầu vào nhau như bàn tay chắp búp sen lạy Phật. Tôi hít hà không khí trong lành và vùng bao la xanh ngắt vắng lặng. Từ cái yên bình của ngoại cảnh và nội tâm, tôi thấy niềm tri ơn vỡ bung ra ôm trọn vẹn tôi trong cái thinh không vô cùng đó. Không biết tên ai để nhớ, để có dịp trả ơn thì làm sao đây? Gọi là Đời, là Trời Phật ư? Nhưng làm sao trả ơn Đời? ơn Trời?

Mỗi lần đi như thế tôi thường khuân về hàng thùng rau đem biếu chùa và hàng xóm. Mọi người cám ơn. Nhưng trong lòng tôi thầm nghĩ chính mình phải cám ơn họ, vì họ đã nhận và tiêu thụ hộ. Không có người nhận thì làm sao tôi có dịp cho. Làm sao tôi có cớ tiếp tục đi mót rau, để dần dần nhìn thấy lòng tham của mình. Nhặt cho nhiều. Tội gì, không có thì phí của đi! Nhưng thực ra thì làm sao mà phí được khi những cây rau bỏ lại sẽ chết đi, sẽ được cầy lên vùi vào lòng đất trở lại làm phân bón cho rau mùa sau. Biết vậy nên từ đó về sau tôi thường chỉ nhặt in ít đủ nhà dùng vài ngày thôi. Còn thì ngồi chơi với ruộng rau. Nhận hưởng nắng ấm trải dài, không gian đầy ắp sức sống và những hỉ xả của Đất Trời! Bỗng nhận thấy rằng mình vẫn nhận rất nhiều, hàng ngày của Trời Đất, mà không thắc mắc. Nhưng người với người thì tại sao nhiều vấn đề thường được đặt ra. Phải chăng vì cái “ngã” còn đứng ở đó đặt ra những chuyện “người cho kẻ nhận.” Người có người không. Người đứng trên, kẻ đứng dưới, v.v… Mặc dầu kinh Phật vẫn dạy rằng hạnh bố thí là hạnh thứ nhất của người Phật tử. Bố thí trong tinh thần không còn có người bố thí và kẻ được bố thí. Chỉ có việc bố thí. Để không còn có Người và Ta, không còn tự ái dù là tự tôn hay tự ti. Vì khi còn phân biệt giữa người và ta tức là còn có “ngã.” Còn nhị nguyên. Còn tính toán hơn thiệt. Còn có đi có lại. Còn rất Đời. Chưa đi vào đường Đạo.

Tất cả những cái thấy, những cảm nhận, những ý nghĩ, những quán chiếu, những suy tư đó nằm đầy ắp óc tôi. Nung nấu. Tôi hiểu hết mọi sự bằng óc. Nhưng chưa bằng con tim. Tất cả còn nằm đó, trên óc. Được dùng để suy đoán, biện luận và phán xét. Chưa di chuyển xuống tim để biến thành máu chạy khắp toàn thân. Tới tận đầu ngọn tóc, tận kẽ ngón chân để trở thành đời sống và hành động tự nhiên như hơi thở.

Cho nên khi lâm bệnh phải nằm nhà thương cả tháng. Đầu óc nhiều lúc rất mịt mù, mất khả năng suy nghĩ mạch lạc rõ ràng. Thân thể thì hoàn toàn bất lực. Như chiếc xe hết xăng hết điện, nằm vạ giữa xa lộ. Tôi sống được hoàn toàn là nhờ sự giúp đỡ của mọi người. Tôi đã nhận rất nhiều ở từ ông bác sĩ giải phẫu, cô y tá hàng ngày vào thay thuốc đến bà dọn phòng vào đổ rác mỗi ngày và bao nhiêu người làm khác để cho thân thể tôi được phục hồi. Tôi đã nhận rất nhiều từ các em tôi, từ họ hàng, bạn hữu thân thương những giúp đỡ hữu hình và vô hình trợ lực cho tinh thần tôi không sụp đổ. Tôi nhận được từ những Linh Thiêng của Đất Trời ân huệ cho tâm tôi mở ra. Bằng lòng đón nhận tất cả. Từ cái đau cho đến tận cùng là cái chết. Bệnh hoạn làm cho thân thể bất lực. Làm tương lai trở thành hiện tại. Mọi dự phóng không còn chỗ đứng. Vì chính sự sống cũng trở thành bấp bênh, biến hóa khó lường. Trên bờ vực bấp bênh đó cái ngã nín thở nằm yên. Đợi chờ. Rồi trong niềm yên lặng vô biên bên trong, và những thương yêu chân thật bao bọc bên ngoài những hiểu biết nung nấu trong óc bỗng bung ra. Tìm đường xuống tim.

Kỷ niệm một buổi tối đi nghe giảng. Rồi thiền với một nhóm người mới gặp lần đầu. Sau khi xả thiền, mọi người đứng thành một vòng tròn nắm tay nhau theo cách “Nhận Cho.” Tay trái ngửa lên cho tay người đứng bên trái mình úp xuống. Tay phải úp xuống tay trái của người đứng bên phải mình. Tất cả mọi người đều làm như vậy thành vòng tròn. Từng đôi bàn tay khum lại ôm lấy nhau. Mọi người cùng nhắm mắt trong một phút cho điện (energy) luân lưu giữa những người trong nhóm. Qua bàn tay mở ngửa, điện nhận được từ người bên trái chạy qua người mình rồi truyền đem cho người đứng bên phải, qua bàn tay mình úp xuống tay người. Truyền cho nhau “thanh điện” và tẩy biến những “trược điện” của nhau. Hôm đó ra về không những là thấy lòng vui thân khoẻ mà còn thấy mình thích quá, thích quá về lối cầm tay kiểu này. Tôi thường vẫn không thích cái kiểu nắm tay nhau, nhất là lại nắm chặt. Bởi vì thấy như có một sự nắm giữ làm của riêng và khi một người muốn buông tay ra, mà gặp người kia không đủ mẫn cảm để nhận biết, thì sẽ có một sự vẫy vùng nho nhỏ. Lối cầm tay này thật nhẹ nhàng và có ý nghĩa. Lúc đó tôi nghĩ vậy.

Kỷ niệm này trở về với tôi nhiều lần trong lúc nằm trên giường bệnh. Câu nói của cậu em mười một năm về trước trên chuyến đi từ San Fran về Los, cùng với câu chuyện của chị bạn về Thầy Thiên Ân và những kinh nghiệm về Nhận và Cho thu thập bấy lâu trong cuộc đời vẫn cất giữ trong óc, bỗng hiện ra như những mảnh puzzle. Ghép vừa vào nhau. Dần dần. Rồi một hôm nằm đọc kinh Phật nói về hạnh bố thí và giảng tại sao nên bố thí, tôi cảm thấy như mình vừa ráp xong mảnh puzzle cuối cùng. Bỗng nhìn thấy như một người tù sau bao năm nằm trong ngục tối được giải phóng để nhìn thấy ánh sáng chói lòa và vạn vật rạng rỡ của một thế giới con người tự do.

Khi ra khỏi bệnh viện, tôi lên San Jose để tiếp tục nghỉ ngơi và dưỡng bệnh tại nhà một người em trai đã có gia đình. Tôi thoải mái trong sự nhờ cậy rất nhiều ở mấy người em. Một anh bạn từ thủa trung học với em trai tôi nghe tin cũng ân cần lại thăm. Anh tình nguyện chở tôi đi bệnh viện khi cần. Thấy tôi khen cây hồng dòn nhà anh, anh cắt cho tôi những chùm hồng vàng cam còn cả lá. Anh đem cho bánh dẻo vợ làm và cuốn băng nhạc chọn lọc thu những bài ca Việt và Mỹ thịnh hành hồi đó khi anh hay xuống chơi với em tôi vào đầu thập niên 60 ở Phú nhuận. Tôi không thắc mắc khi nhận quà anh cho. Cám ơn anh mà không lúng túng. Tôi bỗng nhớ đến hình ảnh cháu tôi hồi một tuổi. Hồi đó tôi đến trông cháu những ngày em tôi đi làm. Đến giờ ăn, chú bé nằm u ơ chờ tôi hâm sữa đem lại. Không thắc mắc. Ăn xong chú buông chai không xuống thảm. Nhìn tôi. Cười. Không lúng túng. Và u ơ đòi bế ra đứng cửa sổ ngóng mẹ về.

Cũng vẫn cùng là một vòng tròn. Lúc đó chú bé đứng bên phải tôi ngửa tay cho tay tôi úp xuống. Bây giờ tôi đứng bên phải anh bạn, tay ngửa lên đón bàn tay anh. Chẳng mấy khác, thì tại sao không thể cũng nhìn cười như chú bé kia. Khi đã biết rằng có một người khác đang đứng cạnh mình bên phải tay ngửa lên cho bàn tay mình úp xuống. Khi biết rằng những người đứng bên phải và bên trái mình luôn luôn đổi chỗ hàng giờ hàng ngày trong cùng một vòng tròn, hay sang một vòng tròn khác. Còn gặp lại hay sẽ không bao giờ gặp nữa. Biết vậy sẽ không còn ngại ngùng khi nhận và mong mỏi khi cho. “Ân nghĩa xin nguyện đền.” Nhưng không phải là tìm cho được ân nhân cũ để trả nghĩa. Mà luôn luôn giữ đầy ắp trong tấm lòng biết ơn Đời ơn Người để luân lưu đi những ân huệ nhận được từ người phía trái sang cho người bên mặt. Để chuyển hóa những đắng cay của Sân hận nhận được thành ngọt ngào của Hỷ xả Tha thứ đem cho người đứng bên. Không sổ sách trong tâm.

Trước Giáng sinh, cô em gái ở Virginia gửi cho ít quần áo ấm mặc trong nhà. Cùng với tấm thiệp nhắc nhở tôi là “everyday should be Christmas and we hope you will in everyday have the comfort of receiving as well as the joy of giving.” (Mỗi ngày đều là Giáng sinh và chúng em mong là chị sẽ mỗi ngày cảm thấy thoải mái khi nhận và vui sướng khi cho – Lời dịch của tòa soạn). Tôi muốn nói với cô rằng từ ngày bệnh hoạn đến nay đối với tôi “everyday IS Christmas.” Và tôi đã cảm nhận được Niềm Vui hồ hởi cả trong hành động NHẬN và CHO. Trong thực tế lúc này tôi không làm được gì Cho ai. Ngay cả mấy con tem nhiều khi cũng phải nhờ người đi mua. Nhưng sao tôi cảm thấy như có rất nhiều để cho. Phải chăng vì tôi nhận được từ Đất Trời và Người rất nhiều. Mỗi ngày. Nhận được nhiều thì cũng có rất nhiều để cho đi. Vì tôi chỉ đứng đó để chuyển hóa và luân lưu đi tất cả sau khi đã thụ hưởng hoặc thêm thắt một chút hương hoa. Rồi có lúc thấy mình không còn đứng đó để nhận hay cho, hay để thấy vui trong lòng. Mà chỉ thấy một sự luân lưu nhẹ nhàng. Không ngừng. Tự nhiên như bốn mùa thay đổi. Như lẽ vô thường của vạn vật.

Bỗng khám phá ra một quyền tự do căn bản và tối thượng của con người mà cả đời mình không hề biết tới mặc dầu vẫn tự hào là người tự do. Bỗng hiểu tại sao trong sáu phép Lục Độ bố thí là hành (động) đầu tiên của người Phật tử, và là hạnh thấp nhất. Nhưng chính hạnh bố thí cũng có thể là hạnh cuối cùng đưa con người tới giải thoát. Trọn vẹn. Đời đời.

Du Li

Chú thích: Bài này được đăng lần đầu trên nguyệt san “Phật Giáo Việt Nam” số 2538 phát hành tại Los Angeles tháng 5, 1994. Được Tạp chí Thế Kỷ 21 đăng lại trong số 63, tháng 6/1994

Chuyến Đi Lần Cuối – Tùy bút của Du Li

CDLC

Tôi cầm lá thư của chị đọc lại đoạn chị viết: “Tôi bỗng thấy mình và tất cả mọi người đều là những người ốm. Ốm bệnh khổ ấy mà và bệnh làm người khác khổ nữa, cô bảo có đúng không? Nếu thế thì mình phải đối đãi với nhau như đối đãi với người ốm. Nghĩa là hỏi han thăm nom nhiệt thành và làm vừa lòng nhau. Lâu lâu nhớ gửi cho nhau tấm thiệp thăm hỏi, đem cho nhau trái cam đầu mùa. Và nhất là tâm tình chia sẻ bệnh khổ của nhau”. Đặt lá thư xuống bụng rồi chắp tay nằm yên. Trong cái yên lặng vô cùng của khu vườn sau tôi thấy nghe tiếng lá chạm nhau xào xạc khi có gió. Tôi nghe cả tiếng thức ăn chuyển từ khúc ruột nọ tới khúc ruột kia kêu ùng ục. Tôi bỗng nhớ tới ba tuần lễ nằm bệnh viện và cuộc giải phẫu vừa qua. Cuộc đời ít khi đau ốm. Lần đầu tiên vào nhà thương cách đây hai năm là để giải phẫu cắt tử cung vì ung thư. Và bây giờ ung thư tái phát. Theo thống kê thì 93% bệnh nhân bị ung thư tử cung sau khi giải phẫu thường khỏi bệnh. Tôi rơi vào số 7% người bệnh tái phát. Theo bác sĩ, ung thư này khi tái phát thường được coi là hiểm nghèo. Tin đồn đi, bạn bè nhiều người ở xa phải nhờ chồng lái xe xa lộ cũng lặn lội tới thăm. Chỉ để cầm tay tôi vuốt ve an ủi. Để vuốt suôi những sợi tóc lòa xòa tên trán hâm hấp nóng. Thật ân cần. Thật nhẹ nhàng. Tôi nhận được những tấm thiệp chúc bình phục thật chân thành tình nghĩa. Mấy cậu em trai tôi ngày trước xuân thu nhị kỳ có tới thăm thì cũng chân trước chân sau, nói gì thì rồi cũng xoay qua chuyện làm ăn, thuế má hay computer thì mới ngồi lâu. Vậy mà các cậu ngồi với tôi hàng giờ. Xỏ cho tôi đôi dép vào chân và đỡ cho tôi vào buồng tắm. Tâm sự vụn vặt với nhau như chuyện chị em gái thường làm. Nói cho nhau những ý tưởng cảm xúc mình chưa hề động hay nói đến trong suốt khoảng bốn mươi năm trời liên hệ chị em. Rồi đêm khuya những lúc thức giấc, tôi nghĩ tới con người. Thấy hay và lạ thật. Hay ở chỗ thật ra ai cũng có tính nhẹ nhàng, kiên nhẫn, độ lượng và đầy thương yêu. Lạ là không hiểu sao người ta thường chỉ biểu lộ những quý tính này với trẻ con và người ốm. Một đôi khi với người già. Nhưng thường phải là những người già dễ tính! Tôi tự hỏi phải chăng vì trẻ con và người bệnh biết mình bất lực nên đón nhận sự giúp đỡ dễ dàng, không áy náy, không tự ái; khiến người cho dễ trở về với chân tính của mình là tử tế và thương yêu. Thật ra ai cũng muốn là người tử tế nghĩa tình, vì con người khi sống tử tế thương yêu, sẽ thấy chính mình có hạnh phúc. Kinh sách nào cũng nói vậy. Và chính tôi cũng chiêm nghiệm vậy trong cuộc đời đã trải qua và trong cơn bện hoạn này.

Những ý nghĩ ở nhà thương đêm trước hiện về, lồng vào đoạn thư vừa đọc, rồi thấy lòng lóe lên một mong cầu. “Nếu mọi người đều biết là mình ốm – ốm bệnh khổ, cái khổ nằm trong đệ bát thần khổ mà Phật đã dạy ấy mà – và cư xử với nhau như cư xử với người ốm, cuộc đới và thế gian này sẽ lành mạnh biết bao!” Nghĩ thế và rồi thấy ngay là mình đang vọng tưởng. Những ngôn từ GIÁ, NẾU là dấu hiệu của vọng tưởng. Tôi thường dựa vào những dấu hiệu này để biết mình đang ở đâu mà tìm đường quay về. Thường cứ thoắt một cái là cái đầu lại ở đâu đâu. Du hành qua không gian và thời gian một cách tự do, dễ dàng.

“Làm sao hàng phục vọng tâm. Làm sao an trụ chân tâm?” Câu hỏi của một đệ tử Phật lúc đương thời. Và cũng là thắc mắc của biết bao người, kể cả tôi. Làm sao. How to? Rồi đổ xô nhau đi tìm phương cách. Thiền là một cách. Thân có yên thì tâm mới tịnh. Tâm tịnh rồi thì mình sẽ “nhìn đời bằng một con mắt lạnh như tro tàn và một trái tim nóng hổi”. Như lời một vị thiền sư chăng? Nhìn đời và mọi sự việc mà không thành kiến, không phê phán, không phân chia, không sắp loại. Sự việc thế nào, là thế ấy. Để rồi bỗng thấy dấy lên từ trái tim nóng hổi niềm thương yêu, thông cảm và tha thứ vô cùng.

Tôi đang nằm đây im lặng. Thiền. Tập nhìn cơn bệnh hoạn của thân xác và phản ứng của người em đồng song – tức là tiểu ngã, cái personality ấy mà. Những ngày nằm bệnh viện, cơn đau quằn quại của thịt da bị mổ xẻ, của khúc ruột bị hư cắt đi và nối ngắn lại, của các thứ thuốc trụ sinh, thuốc ngủ và thuốc morphine; tất cả khiến đầu óc mịt mùng. Và từ sự mịt mùng đó thấy mình là thân xác bệnh hoạn nằm trên giường bệnh. Thấy mình là những cuống quít sợ hãi, những níu kéo, cầu mong. Chân tâm biến mất. Tâm trí biến loạn, vọng tưởng. Bị thôi thúc, lôi kéo. Vật vờ như chiếc lá trên mặt hồ một chiều lộng gió. Bao nhiêu công phu thiền tập như tan biến. Cho đến một đêm, thức giấc, qua cửa kính nhìn ra ngoài trời không trăng sao, tôi bắt gặp một cảm giác an lành vô cùng. Rồi bỗng nhớ tới hai câu thơ của thi sĩ Huyền Không

Ta từ sinh tử về chơi
Ngồi trên chóp đỉnh mỉm cười với trăng.

Ta nào vậy nhỉ? Mà sao an nhiên tự tại thế. Bỗng thấy mình như với được một đầu dây để tìm về. Về đâu nhỉ? Về chân tâm. Về nơi chốn ở đó có cái nhìn lạnh như tro tàn chăng?

Từ đêm đó lúc ẩn lúc hiện thấy hình thành một đường hướng tâm nguyện. Hướng tìm gặp cái TA của thi sĩ Huyền Không. Cái ta tự tại. Đồng thời cũng sẵn sàng tan biến, hội nhập vào Đại Ngã trong càn khôn vũ trụ. Như một giọt nước trở về đại dương. Thanh thoát. Vô cầu.

Rồi cũng từ hôm đó tôi dám nhìn thẳng vào vái chết sẽ xảy đến cho mình, có thể trong một ngày rất gần. Bằng cách bắt đầu nhờ cậu em lo làm hộ chúc thư và gửi giấy cho nhà băng đóng những trương mục hiện hữu. Bắt đầu nghuệch ngoạc trên cuốn tập học trò lời căn dặn về một vài chuyện tụng niệm ma chay. Đời sống độc thân ngày càng ít nhu cầu nhờ vậy dần dần bớt đi nhiều dây nhợ với thế gian. Mấy năm gần đây tôi tự nhiên xé bỏ tất cả những thẻ tín dụng. Đi vào đời sống vật chất thật giản dị. Cho đi bớt quần áo. Chỉ giữ lại ít cái đủ mặc và một “bộ cánh” của thời phù hoa thuở trước phòng khi phải đi ăn cưới. Tự nhiên bắt chước được cái thói quen của chị bạn là mỗi khi có ai cho một cái quần mới, áo mới là lập tức phải cho bớt đi một cái quần, cái áo trong số quấn áo đương mặc. Nhiều lúc cũng tần ngần. Vì số đồ giữ lại thường là những cái mình vừa ý nhất. Nhưng rồi cũng cố gắng làm. Và quen đi. Để rồi thấy một hôm mình ngồi trước kệ sách, chọn được một mớ đem cho, Sau đó, hễ thấy bạn bè ngỏ ý thích cuốn sách nào mà mình có, là mừng rỡ gửi biếu. Ngày xửa ngày xưa, vật dụng tôi đưa người khác mượn một cách dễ dàng. Nhưng mượn sách là tôi kỹ lắm.

Nhiều lúc mặc cảm là mình ích kỷ chăng? Sau này nhìn ra thấy mình quá bám víu vào sách vở, vào kiến thức. Coi đó là mình. Coi mình là quan trọng! Tủ sách tôi càng quang thì đầu óc tôi càng nhẹ nhõm. Căn phòng ngủ ngày càng thưa trống đồ đạc, trông rộng rãi hẳn ra. Lâu lâu tâm sự với chị bạn: “một ngày nào đó em có Đi, chắc cũng dễ vì va-li nhẹ lắm rồi!” Hôm nằm bệnh viện mới thấy mình lầm to. Vì tất cả những sự “dọn mình” lúc trước mới chỉ là như lá quét sân chùa. Hành trang vật chất tuy ít thật, nhưng hành trang tình cảm còn bề bộn, nặng nề. Từ hôm đó tôi lo tập trung tâm sức vào việc dọn dẹp trong chính diện. Nhưng không phải dễ. Nhìn vào nội tâm đòi hỏi một sự thức tỉnh tuyệt đối. Trong khi đó thì con người cả đời chỉ biết phóng ra bên ngoài. Rồi quen thói đi. Sợ sự im lặng. Sợ bóng tối. Thức giấc dậy là mắt mở lơ láo. Và mở miệng. Có một lần tôi nghe một cậu em ít nói bảo tôi là: “Nếu tạo hoá muốn con người nói nhiều hơn nghe, thì con người phải có hai cái miệng và một cái tai chứ. Đằng này con người có hai lỗ tai và một cái miệng vừa dùng vào việc ăn và việc nói, thì mình phải hiểu ý Trời là muốn mình nói ít nghe nhiều mà.” Tôi nghe thấy hợp lý nên sau đó mỗi khi nhớ, cái miệng của tôi cũng ít phải làm việc  hơn. Tôi tập nghe nhiều hơn. Nghe âm thanh. Và nghe cả sự im lặng nữa. Rồi khám phá ra rằng sự im lặng rất ngọt ngào, bao dung. Một tiếng lá rơi, một tiếng chim vỗ cánh, một thinh không tĩnh lặng dẫn đưa tâm hồn vào một niềm hoan lạc vô cùng. Từ đấy thấy nhạc hòa tấu, nhạc thính phòng, tiêng hát Khánh Hà, Don Hồ, chỉ là một thoáng gió quạt nan trong cái nóng hầm hập của đêm hè trần gian. Từ đấy thấy trìu mến cái âm thanh của im lặng. Của một mình. Không thấy cô đơn. Không buồn chán.

Tôi nằm im. Nhắm mắt. Nghe. Thấy những ý tưởng hỗn tạp tiếp nối chạy trong đầu như những cụm mây bay ngang bầu trời. Không ngừng nghỉ. Thích cái này, không thích cái kia. Muốn cái này, không muốn chuyện kia. Thương người này, không ưa người kia. Họp ý, hợp khẩu, hợp nhãn v.v.. Phân chia mọi chuyện ra thành trắng đen, chấp vào ý mình mà phán đoán. Rồi mắc kẹt ở trong đó. Từ đó mua cho mình và gây cho người nhiều phiền não, khổ đau. Nghiệp chướng cứ thế mà tích tụ. Những ý tưởng và tình cảm vô trách nhiệm, rối rắm, không rõ ràng đẻ ra những nợ nần oan trái. Quán chiếu trong im lặng tôi nhận diện được một số nghiệp chướng và oan trái đời này. “Tội từ tâm khởi. Cũng từ tâm diệt. Tâm không tội diệt. Cả hai đều hết.” Nhưng còn những nghiệp chướng từ vô thỉ tàng tích lại? Làm sao mà quán chiếu cho hết trong lúc khẩn cấp này? Phải sám hối. Chỉ có cách sám hối! Tôi nghe vọng lên trong tôi lời nhủ thầm này.

Tôi nhờ Vân cho mượn mấy cuốn kinh. Sáng sáng, chiều chiều tôi mở kinh ra đọc. Đọc lần đầu tiên trong đời. Đọc như đọc sách. Nhưng đọc thành tiếng. Tôi được biết giáo sư V.K. Khoan cũng quay về đọc kinh trong hai năm bệnh hoạn trước khi Ông qua đời. Qua kinh kệ Ông thấy “Tôi lặng lẽ dìu tôi đi vào một cõi mới dấy lên. Cõi đó, lạ lạ, quen quen. Cõi đó hàng đêm. Cõi đó, riêng tôi. Một mình.”

Bây giờ thế giới của tôi chỉ còn chuyện đọc kinh học kệ. Những lúc trí óc rối loạn, tôi đem quán chiếu câu nói của Đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn từng được ấp ủ trong tâm: “Hạnh phúc đích thực là niềm an lạc nội tâm và tự tại mà ra. Mà niềm an lạc tự tại phải đạt lấy qua sự nuôi dưỡng óc vị tha, lòng từ bi và diệt trừ sân hận, vị kỷ, tham lam…” Rồi quy nguyện sẽ sống trong ánh sáng đó những ngày còn lại. Những lúc khác tôi chuyên cần đọc kinh dọn mình cho cuộc ra đi cuối cùng. Và mỗi khi nằm nghỉ bắt gặp đầu óc mình lang thang đi vào vọng tưởng, hay mỗi khi thân thể đau nhức, tôi bèn nhẩm đọc kinh Kính Lạy ChaKinh Kính Mừng mới vừa học thuộc lòng.

Trong cái thế giới thu hẹp đó, tôi tìm thấy những hình ảnh đầy thương yêu của Chúa và Đức Mẹ. Của Phật và Bồ Tát. Cùng các thánh thần. Và với lòng tin cậy vô cùng vào những Thương Yêu và Linh Thiêng ấy tôi sửa soạn buông mình trôi vào Cõi mênh mông đến đón.

Cảm thấy vừa run sợ, vừa mong mỏi. Trong một niềm kính cẩn chân thành. Một mình. Mà không thấy chơi vơi trong chuyến đi.

Một chuyến Ra Đi? Trở Về? Hay không Đi cũng không Về? Mà chỉ là vật chất chuyển dạng và thần thức thăng hoa?

Du Li
9/1993

Tag Cloud