VIỆT NAM CỘNG HÒA

Tôi thường hay đi theo vài người bạn nhiếp ảnh lái xe ra các vùng ngoại ô của thành phố để chụp ảnh tiêu khiển. Một ngày tháng Mười ngay sau Lễ Tạ Ơn năm ấy, chúng tôi lái xe đến vùng Halton Hills và Caledon có nhiều đồi và những con đường nhấp nhô uốn khúc để chụp ảnh cảnh mùa thu. Sau khi đã mải mê chụp nhiều ảnh đồi đất đỏ ở Cheltenham Badlands, chúng tôi đến Forks of Credit Provincial Park để lội bộ theo đường mòn thiên nhiên dài mấy cây số. Con đường khó đi hơn chúng tôi tưởng và mất nhiều thì giờ hơn. Chúng tôi đi vòng qua ao nước, đồng cỏ cao, lùm bụi, rừng thưa, dốc cao.

Khi đến một khúc sông trên thượng nguồn sông Credit, chúng tôi dừng lại nơi một cây cầu bắt qua sông và đường tàu hỏa rồi quay trở về bãi đậu xe. Lúc bấy giờ đã hơn 6 giờ chiều, trời tháng Mười bắt đầu mau tối, chúng tôi cảm thấy hơi lạnh len lẻn ập đến thấm qua làn áo. Trong ánh hoàng hôn chập choạng, những tia nắng chiều cuối cùng xuyên qua cánh đồng đầy hoa ké khiến cho chúng ánh màu hoàng kim trông là lạ. Do đã già và do gió thu thổi mạnh, chúng đều đã bị sứt mẻ, vài cánh mỏng manh đã bị gió thổi bay đi mất. Chợt thấy một đóa còn nguyên vẹn hình hài đẹp quá, tôi nán lại phía sau để chụp thêm một vài tấm ảnh trong khi các bạn tôi hối hả bước.

Hoa Ké – Thistle – Cynara (ảnh PH)

Ðến cuối thu, cây cối trơ cành, cảnh vật xơ xác, ngoài đã lạnh lắm rồi, những tấm thân già trên sáu bó -chữ của Công Tử Hà Ðông- chúng tôi chẳng dám uống thuốc liều đi lang thang chụp hình nữa e trúng gió cảm lạnh vợ sẽ rầy rà. Các đàn ngỗng Canada cũng đã xuôi về miền Nam nắng ấm mất hết cả. Không phải là “chim tuyết”, chúng tôi đành rút tó trong nhà ngồi quây quần bên nhau vừa ăn vặt vừa xem lại các phim xưa để hoài niệm một thời son trẻ ở quê nhà.

Dạ thưa vâng, chúng tôi xem lại, vì trước đó đã xem rồi vài lần. Phim hay thì dù xem lại vẫn thấy hay. Có người xem rồi mấy lần vẫn chưa hiểu hết, tức quá, kiếm truyện đọc. Có người đọc truyện trước, thấy hay qua, kiếm phim xem.

Một người bạn ghiền xi nê thứ thiệt xem phim Gone With The Wind bảy, tám lần và còn đọc tác phẩm đó nữa! Tuy tính tôi hay nghi ngờ nhưng cũng phải nghĩ chắc điều này có thật, bằng chứng là kể từ khi sách in ra năm 1936 và phim chiếu ra năm 1939 cho đến nay, sau hơn 70 năm, cả sách và phim Gone With The Wind vẫn tiếp tục tạo nhiều kỷ lục.

Tại sao Gone With The Wind, cả tiểu thuyết lẫn phim, có sức thu hút người đọc và người xem đến thế? Để có được câu trả lời thích đáng, Mít tôi, vốn ưa sống trong thế giới ảo, “xuất hồn” đi ngược dòng thời gian để gặp Margaret (Peggy) Mitchell, người đã viết ra tác phẩm kiệt xuất này và xin bà dành cho một cuộc phỏng vấn ảo.

Mít: Hi, Peggy! Tôi là Mít ở Toronto, phóng viên đài phát thanh người Việt CH9 (viết tắt của 9 chữ bắt đầu bằng CH là Chẳng Chịu Chờ Chết – Chọc Cho Chúng Chửi Chơi), trước hết xin chân thành cảm tạ Peggy đã dành thì giờ vàng ngọc cho cuộc phỏng vấn này. Xin Peggy cho biết Peggy sáng tác GWTW trong trường hợp nào?

Peggy: Thật ra tôi vốn có tính chây lười và ham chơi lắm. Tôi làm cái gì cũng là làm chơi chơi thôi. Số là từ khi còn bé, tôi đã thích cưỡi ngựa, nhưng một lần bị té nặng đã làm cho cổ chân của tôi trở nên yếu đi. Ðến năm 26 tuổi, tôi vẫn sống ở Atlanta là nơi tôi chào đời. Sự nghiệp viết lách không đi đến đâu lại đau yếu, có lúc tôi cảm thấy chán nản xuống tinh thần muốn bỏ dở luôn chuyện sáng tác. May nhờ có John Marsh, chồng tôi, một giám đốc quảng cáo, tin tưởng ở tài năng tôi và tìm cách áp lực tôi tiếp tục cầm bút. Trong 5 năm đầu (1925,1930), tôi viết nhiều và đều đặn. Tôi dùng bối cảnh của cuộc nội chiến vốn đã chấm dứt 60 năm trước. Ðến năm lên 10 tuổi, tôi vẫn chưa biết là miền Nam thua trận. Mẹ của tôi phải đưa tôi ra vùng quê ngoại ô, chỉ cho tôi thấy dấu tích hoang tàn còn sót lại của các ngôi nhà nông trại cháy nám rồi nói lên sự thật quan trọng ấy cho tôi biết. Sau này tôi cứ bị câu chuyện kể về sự bại trận ám ảnh mãi và cuộc chiến huynh đệ tương tàn luôn luôn là chiếc bóng đi bên cạnh đời tôi. Tôi không cần phải nói, ông là người miền Nam nước Việt Nam của ông và đã kinh qua biến cố 30 tháng Tư 1975, chắc ông cũng biết cái cảm giác đó nó như thế nào rồi, phải không ông Mít?

Mít: (cười trừ).

Peggy: Anyway, tôi lớn lên trong một thành phố nơi mà những kỷ niệm qua con người và các địa danh vẫn còn sống động; và một chuyến đi viếng thăm bà con bên ngoại ở một nông trại cách Atlanta 20 dặm về phía Nam đã chờn vờn mãi trong tâm trí tôi. Nông trại ấy từng do bà ngoại tôi làm chủ sau khi bà ấy đã phải di tản khỏi thành phố Atlanta khi đạo quân của tướng Sherman tiến vào. Hoàn cảnh người dân miền Nam của ông chắc cũng tương tự như vậy khi xe tăng Bắc Cộng tiến vào Saigon, có phải không ông Mít?

Mít: Dạ thưa đúng vậy…

Peggy: À! Lúc khởi sự viết, tôi chỉ biết đoạn kết cuộc và đoạn đầu của câu chuyện; và tôi chọn viết đoạn kết trước. Rhett Butler nói câu, “Frankly, my dear, I don’t give a damn!” với vợ là Scarlett rồi bỏ đi không bao giờ trở lại. Câu này tôi thuỗng của ông chồng trước của tôi khi tôi bỏ ổng đặng lấy ông chồng hiện giờ.

Margaret Mitchell (1900-1949)

Mít: Mít tôi và vô số người Việt sống lưu vong cũng ôm mộng viết hồi ký hoặc tiểu thuyết. Vậy Peggy có thể cho biết bí quyết viết thế nào để thành công?

Peggy: Tôi chẳng có bí quyết gì cả; tôi chỉ viết tùy hứng, bạ đâu viết đó. Thật ra tôi ít khi viết diễn biến câu chuyện một cách liên tục. Tôi nhảy từ đoạn này sang đoạn khác, đứt quãng nhiều năm. Viết một chương xong, tôi bỏ vào phong bì giấy dầu, đánh dấu, rồi quẳng nó qua một bên. Trải qua nhiều năm tháng, những phong bì này trở nên phai màu hoặc dính đầy vết vấy cà phê tôi làm đổ. Có khi lười tìm giấy trắng, tôi còn nguệch ngoạc viết bừa lên bên ngoài phong bì cái “list” đi chợ ghi ra các món cần mua.

Mít: Có ai biết là Peggy đang viết tiểu thuyết và khích lệ Peggy không?

Peggy: Ngoài chồng tôi ra, không ai khác biết là tôi đang viết tiểu thuyết. Tôi là người có tính vô cùng tự kỷ ám thị về phẩm chất văn chương của mình. Tôi rất thiếu tự tin, lúc nào cũng chỉ sợ nó dở và bị người ta chê bai. Có lần, tôi còn lấy một xấp bản thảo để kê chân bàn cho nó khỏi chông chênh. Tôi giấu bài viết của tôi như mèo giấu c… Xin lỗi. Ðáng nhẽ tôi không nên dùng từ ngữ thô tục. Ý tôi muốn nói là chỉ có chồng tôi được phép đọc qua bản nháp lúc bấy giờ. Khi có bạn đến thăm, tôi phải vội vàng giấu bản thảo dưới nệm giường hoặc sofa. Trường hợp bạn đến thình lình, tôi còn phải vội vơ đại khăn lau chén phủ lên máy đánh chữ nữa đấy. Nhưng tôi cũng có bật mí đôi chút cho Lois Cole, một người bạn sau đó lên New York làm việc cho nhà xuất bản McMillan.

Mít: À thì ra Peggy có “connection”?

Peggy: “Connection” cái con khỉ! Tôi viết cốt để giết thì giờ thôi chứ đâu có nghĩ là sách mình sẽ được xuất bản.

Mít: Thế Peggy viết mất bao lâu mới xong?

Peggy: Tôi bắt đầu ngồi gõ chữ từ năm 1925. Sau 5 năm dài vắt tim óc để đánh máy hàng ngàn trang giấy, tôi cũng chỉ mới hoàn tất được 2/3 quyển truyện. Phần chưa viết gồm có chương đầu, một số đoạn nối kết và tựa sách. Tôi phân vân giữa các lựa chọn: Tomorrow Is Another Day (Mai Lại Một Ngày), Bugles Sang True (Trỗi Thật Ðiệu Kèn), Not In Our Stars (Không Phải Số Mình), và Tote the Weary Load (Hành Trang Mang Nặng) nhưng vẫn chưa hài lòng. Lúc bấy giờ, cổ chân tôi hết đau; tôi tạm quên gánh nặng viết lách để hòa mình vào những sinh hoạt bình thường mà tôi yêu thích như gặp gỡ bạn bè trong các buổi ra ngoài đi dạo, đi ăn trưa, ăn tối, lễ hội, khiêu vũ, v.v. Thấy tôi lơ là, chồng tôi lại làm áp lực hối thúc. Chúng tôi dọn nhà, đống bản thảo nằm trong xó tủ. Năm 1934, tôi bị trặc cổ trong một tai nạn xe hơi; thế là lại ngưng viết. Ðến khi nhà xuất bản đồng ý in sách cho tôi thì tôi mới phấn khởi và lên tinh thần trở lại. Tôi lại moi óc và tra cứu tài liệu để viết tiếp. Nói để ông thương chứ sau gần mười năm trời cặm cụi ngồi gõ chữ mà tôi vẫn chưa hoàn tất quyển truyện. Tôi thay tên các nhân vật chính khá nhiều lần: Pansie thành Scarlett, Permelia thành Melisande rồi thành Melanie; đổi tên trang trại Fontenoy Hall thành Tara, v.v.

Mít: Thế cái tựa Gone With The Wind Peggy chọn sau cùng là do đâu mà có?
Peggy: Về phần cái tựa, vốn là một người yêu thích thơ văn, một hôm tình cờ tôi nhớ lại một bài thơ 24 câu của thi sĩ người Anh Ernest Christopher Dowson. Bài thơ có cái tựa chữ La Tinh là Non Sum Qualis Eram Bonae sub Regno Cynarae, một câu nói của thi hào La Mã Horace. Tôi đoán theo Anh ngữ nó có nghĩa là “I am not as I was under the reign of the good Cynara”. Và chính vì thế mà người ta thường gọi tắt tựa bài thơ là Cynara, trong đó có đoạn:

I have forgot much, Cynara! gone with the wind,
Flung roses, roses riotously with the throng,
Dancing, to put thy pale, lost lilies out of mind;
But I was desolate and sick of an old passion,
Yea, all the time, because the dance was long:
I have been faithful to thee, Cynara! in my fashion.

Tôi lấy làm mừng rỡ vì bốn chữ “gone with the wind” vừa phù hợp với chủ đề của tác phẩm vừa mang âm điệu thi vị lắm. Ông thi sĩ Dowson dùng câu thơ của Horace được thì tôi cũng dùng câu thơ của ông ta được, đâu có chết thằng Tây nào.

Mít: Mà… Cynara là nghĩa gì vậy Peggy?

Peggy: Cynara theo chữ La Tinh là tên của một loài atisô dại, tên Anh ngữ là thistle; trái của nó bao bọc bên ngoài nhiều gai mà người Việt ông gọi là trái kế hoặc trái ké; ai đi lội vô chỗ đó dễ bị nó dính hai ống quần.

Mít: Peggy rành sáu câu!

Peggy: Tôi rành hết 24 câu. (cười). Anyway, hoa ké trắng như bông vải, hình cầu có nhiều cánh nhỏ hình thù như một cánh dù mang hạt nhỏ xíu thường tung bay tơi tả trong không khí khi có gió nổi lên. Hồi còn học bậc tiểu học ở Việt Nam, chắc ông từng dùng từ điển Larousse của Pháp hẳn không quên nhãn hiệu có hình hoa ké và câu phương châm “Je sème à tout vent”, tôi nói có đúng không?

Mít: À… ờ… dạ vâng. Ðúng. Peggy có đưa một phần nào về kinh nghiệm đời thật của mình vào tiểu thuyết hay không?

Peggy: Tôi quan niệm tiểu thuyết phải dựa vào sự kiện thật ngoài đời mới là tiểu thuyết hay. Sự hư cấu là để tô vẽ cho bức tranh thật trở nên bi hùng hơn. Có một số biến cố trong truyện phản ảnh kinh nghiệm trong đời sống thật của tôi. Năm 1918, trong lúc tôi đang xa nhà để theo học ở Massachusetts, mẹ tôi mất vì bệnh cúm ở Atlanta; trong truyện, Scarlett trở về Tara và hay tin mẹ mất vì bệnh thương hàn. Cũng cùng năm đó, tôi hứa hôn với một trung úy trẻ sang Pháp tham dự Ðệ Nhất Thế Chiến và tử trận, cũng tương tự như người chồng đầu tiên của Scarlett vừa cưới xong thì chết, tuy không vinh quang gì, vì là chết bệnh sưng phổi trong lúc còn đang thời kỳ huấn luyện quân sự. Năm 1919, trong khi vẫn còn để tang mẹ vừa mất mấy tháng trước, tôi đi dự một buổi dạ vũ từ thiện và nhảy múa điệu Apache vung vít khiến cho thiên hạ xầm xì, cũng giống như Scarlett trong phim, còn mặc đồ đen để tang chồng mà ra nhảy với Rhett tưng bừng làm cho các mợ sồn sồn ngứa mắt! Năm 1920, một trận hỏa hoạn lớn xảy ra ở Atlanta, tôi phải làm việc suốt đêm tại một trung tâm cấp cứu. Trong phim, Scarlett hớt hãi chạy khỏi Atlanta bừng lửa trong kinh hoàng vừa thể hiện chuyện thật trong sử sách vừa là kỷ niệm riêng của chính tôi đấy.

Mít: Thảo nào truyện của Peggy đọc sống động hấp dẫn quá chừng!

Peggy: Cám ơn ông Mít.

Mít: Dạ không có chi. Bằng cách nào mà Peggy có thể liên lạc được với nhà xuất bản? Tôi xin hỏi để rút kinh nghiệm.

Peggy: Tôi có liên lạc với nhà xuất bản bao giờ đâu. Họ đi tìm tôi đấy chứ. Năm 1935, ông Harold Latham của nhà xuất bản McMillan đến thành phố Atlanta để tìm kiếm những tay viết mới. Một người bạn của tôi là Lois Cole cũng đang làm việc cho nhà xuất bản McMillan nên có nhắc đến tôi cho Harold Latham biết. Vì thế khi đến Atlanta, ông Latham nhờ tôi hướng dẫn cho ông ta đi tìm tài năng mới, nhưng tuyệt nhiên tôi chẳng dám đá động gì đến tác phẩm của mình. Ông ta dặn hờ là nếu tôi có bản thảo truyện nào thì hãy đưa cho ông ta xem trước. Tôi vẫn không chịu đưa bản thảo của chính mình cho ông ta xem; vì theo sự nhận xét của tôi, GWTW dở quá làm cho tôi mắc cỡ.

Mít: Thế thì do cơ duyên nào mà GWTW lọt vào mắt xanh của nhà xuất bản?

Peggy: Thế rồi một hôm ngồi quán tán láo chơi, có một người bạn nhận định về tôi như sau, “Nói thật nha, tao không nghĩ mày thuộc loại nhà văn có thể viết một tác phẩm thành công. Mày không đủ quyết tâm để trở thành một tiểu thuyết gia”. Bị chạm tự ái, tôi tức tốc chạy về nhà chộp đống bản thảo đi tìm gặp ông Latham. Lúc ấy ông đang trọ ở khách sạn. Tôi hồi hộp ngồi chờ ở đại sảnh. Vừa thấy ông ta xuống, tôi thẳng thừng đùa đống bản thảo cao như núi về phía ông và bảo, “Ông cầm lấy cái của quỷ này đi ngay không thôi tôi đổi ý bây giờ!” Ông ta phải chạy đi mua một cái valise riêng để đựng nó đấy.

Sau khi ông ấy rời thành phố Atlanta để về lại New York rồi thì tôi mới lạnh cẳng đổi ý. Tôi tức tốc chạy ra bưu điện gởi ngay cho ông một bức điện tín đòi ông trả bản thảo lại. Ông ta có nhận được bức điện tín đó nhưng cứ lờ tôi đi và làm như không biết. Sau đó ông ta mới tiết lộ với tôi là ông chưa từng thấy bản thảo nào bê bối như bản thảo của tôi. Nó vừa vàng ố, ẩm mốc mà lại còn chi chít chỗ sửa bằng bút chì; ông ngồi trên xe lửa lắc lư con tàu đi vừa đọc vừa mắng thầm tôi quá chừng. Ấy vậy mà ông thính mũi đánh hơi biết ngay đó là một tác phẩm ăn khách và hái ra tiền. Ông ta liền “offer” sẽ in, với điều kiện là tôi phải viết nốt cho xong chương đầu còn thiếu, làm tôi tưởng tôi nghe nhầm chứ!

Mít: Rồi sao nữa? Peggy kể gấp đi. Chính tôi đây là một phóng viên lão làng (già, nhưng không lão luyện) mà còn hồi hộp đây nè!

Peggy: Ông Mít ơi! Lúc ấy tôi lo lắm! Tôi sợ khi tác phẩm của tôi tung ra rồi không biết người miền Nam có vui lòng đón nhận nó hay không; hay là họ lại trách tôi nhắc chi đến chuyện tan hàng thua trận, ông có hiểu không? Nếu họ không đón nhận GWTW, biết đâu tôi cũng sẽ bị “quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh” và bị mọi người xa lánh. Ông Latham gia hạn cho tôi trong sáu tháng phải hoàn toàn viết xong để in. Tôi phải đọc tới đọc lui không biết bao nhiêu bận và sửa chữa các chi tiết để cho nó ăn khớp với tài liệu sử.

Mít: Vậy sau khi sách tung ra rồi, dư luận đọc giả toàn quốc nói chung và miền Nam nói riêng phản ứng ra sao?

Peggy: McMillan in và tung ra đợt đầu mười ngàn cuốn tháng Tư 1936, tháng Bảy in thêm 50,000 cuốn nữa. In ra bao nhiêu người ta mua hết bấy nhiêu. Chỉ trong sáu tháng đầu đã bán ra nửa triệu cuốn và một năm sau hơn một triệu cuốn; tôi không thể tưởng tượng. Tờ New York Times khen ngợi nhiệt liệt trên trang nhất, tờ New York Sun so sánh GWTW như War and Peace của văn hào Nga Leon Tolstoy làm tôi nở mũi. Các tên tuổi lớn trên văn đàn Mỹ đương thời như Stephen Vincent Benet, Robert Nathan, và nhà văn H. G. Wells của Anh Quốc đang có mặt ở Mỹ lúc bấy giờ đều khen ngợi tôi. Ðiều tôi vui mừng hơn hết là toàn thể báo giới miền Nam đều nồng nhiệt đón nhận đứa con tinh thần của riêng tôi và của cả miền Nam thân yêu của tôi. Qua năm sau thì tôi nhận được giải Pulitzer Prize.

Mít: Theo Peggy thì nhờ vào yếu tố nào mà GWTW thành công?

Peggy: Về giá trị văn chương thì tôi nghĩ GWTW cũng không hơn không kém các tác phẩm ăn khách khác. Sở dĩ nó thu hút đọc giả, nhất là phái nữ, là vì nó đánh đúng tâm lý vai trò người phụ nữ cần có cá tính mạnh có thể đương đầu với mọi thử thách cam go trong cuộc sống và nhất là đương đầu trong mối liên hệ phái tính đối cực là người đàn ông. Tôi cố tình để cho nhân vật Scarlett có những khuyết điểm như nóng nảy, ích kỷ, đanh đá, khe khắc, nhất là đối với gia nhân, vì tôi không muốn tạo ra một nhân vật nữ anh hùng toàn hảo như trong thần thoại Hy Lạp.

Tôi muốn nàng thật gần gũi với một mẫu phụ nữ mà ta có thể gặp trong đời thường ở bất cứ đâu. Kể từ khi có Jane Eyre một trăm năm trước đến bây giờ mới có Scarlett O’Hara xuất hiện. Nữ sĩ Charlotte Bronte giới thiệu người con gái trẻ cương quyết tự giải phóng để trở nên độc lập trước những áp lực xã hội dưới triều đại Victoria Anh Quốc. Tương tự như thế, Scarlett O’Hara có đủ ý chí phản kháng lại mọi thống trị của phái nam. Ðẹp quyến rũ, thông minh, sắc bén, với thể chất nhỏ nhắn nhưng trong nghịch cảnh hay trong cơn cấp bách, nàng vẫn can đảm xoay sở không chịu khuất phục và hành động xử sự bằng lý trí hơn là tình cảm như một đấng nam nhi.

Chắc ông nhớ chứ? Cuối truyện, sau khi Rhett bỏ đi, Scarlett nói, “..Tara!…Home. I’ll go home, and I’ll think of some way to get him back! After all, tomorrow is another day!” (Tara!…Quê nhà. Phải, ta sẽ về, và bằng cách nào đó ta sẽ làm cho chàng trở về với ta. Dù gì chăng nữa, ngày mai cũng chỉ là một ngày nữa thôi!). Ông thấy không? Nàng chủ động tự quyết định đời mình; nàng sẽ phấn đấu để sống còn, và tinh thần bất khuất của nàng nối tiếp cho cuộc khởi dậy của Jane Eyre. Ðó là niềm hứng khởi cho phụ nữ chúng tôi ước vọng. Bằng quyết tâm, chúng tôi có thể vượt qua được mọi trở ngại để vươn lên từ đống tro tàn để xây dựng lại từ đầu. Tôi nghĩ đó là yếu tố chính của thành công. Nhưng tôi cũng muốn thú nhận với ông một điều là nếu không có sự hỗ trợ và thúc đẩy của chồng tôi thì chắc là tác phẩm GWTW không hề có.

Mít: Xin được phép hỏi Peggy câu hỏi cuối là thường thường những câu chuyện tình đều có kết cuộc tốt đẹp kiểu “They live happily together ever after”, vậy Peggy có định viết quyển kế tiếp cho Scarlett gặp lại Rhett như ý nàng muốn hay không?

Peggy: (cười lớn) Ông điên rồi sao? Tiền bản quyền tôi kiếm được xài mãn đời không hết, tội gì tôi phải ngồi gõ lọc cọc nữa cho mệt thân? Vả lại, tôi có nói với ông từ đầu là tính tôi chây lười và ham chơi lắm. Thôi ông về lo viết chuyện của ông đi nhé. Cuộc phỏng vấn cũng đã quá dài. Bye ông.

Bị đuổi khéo, Mít tôi cám ơn bà và ra về.

Nhưng cuộc đời quả thật oái oăm; trong khi nhân vật Scarlett của Cuốn Theo Chiều Gió cương nghị và can đảm đứng vững trước mọi vinh quang cũng như thất bại thì tác giả Margaret ngoài đời không được như thế. Bà rất yếu đuối về ý chí, bà luôn phải tìm sự trợ giúp nơi người chồng. Danh vọng và tiền tài đến với bà có khi trở thành một sự đe dọa hơn là một sự giải phóng. Bà càng trở nên an phận thúc thủ hơn dưới bóng hôn nhân và không cầm bút nữa. Bà cảm thấy như bị vây hãm bởi sự nổi tiếng của bà, sự chú ý theo dõi của giới truyền thông và sự ái mộ của công chúng dành cho bà.

Năm 1945, chồng bà bị kích tim và sức khoẻ ông không bao giờ hồi phục như cũ. Bà trở nên hiền thục hơn và càng giống như nhân vật Melanie trong tác phẩm của bà, một người vợ dịu dàng thương yêu luôn luôn kiên nhẫn chịu đựng chăm sóc cho chồng. Không ngờ số phận khiến cho bà ra đi trước. Bà mất năm 1949 lúc chỉ mới 48 tuổi; chồng bà mất năm 1952 và được chôn bên cạnh mộ bà tại nghĩa trang Oakland, Atlanta. Với cả hai đời chồng, bà đều không có con. Nhưng đứa con tinh thần của bà sẽ sống mãi trong lịch sử văn chương mặc dù có tựa là Cuốn Theo Chiều Gió.

Phan Hạnh.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Tag Cloud

%d bloggers like this: