VIỆT NAM CỘNG HÒA

Archive for January, 2015

Tết đến, Xuân về

tdxv

(Bài viết cho Đặc San Người Việt Quốc Gia Montreal, Canada)

Năm nay tôi tròn một vòng 60 năm. Vui hay buồn? Theo tôi, lứa tuổi nào cũng có những cái hay của nó. Và mỗi độ xuân sang, mình càng nhích gần tới cuộc du lịch cuối đời của mình. Do đó cần phải ráo riết tận dụng khả năng, tiềm thức để “đánh bóng” cuộc đời mình trước khi quá trễ. Khi còn trẻ, chắc ai cũng háo hức trên ghế nhà trường, trung niên thì ráo riết trong nghề nghiệp, cạnh tranh ở trường đời. Sau đó, từ từ mỏi gối chùn chân theo sức khoẻ và tuổi đời. “Đánh bóng” với tôi là làm cho cuộc sống mình thêm ý nghĩa: cho mình, cho gia đình và cho đời. Hoàn toàn không phải “tận hưởng kẻo uổng” mà ngược lại là “tận tâm cống hiến kẻo uổng”

Có làm biếng làm nhác tôi cũng rán lo tươm tất mấy ngày Tết. Một phần nhằm gìn giữ tập tục ông bà, một phần muốn nhắc cho con tôi nhớ cái tầm quan trọng của ngày tư ngày tết trong truyền thống gia đình Việt Nam. Chuyện này coi như được viết trong cuốn tự điển to chảng của gia đình tôi rồi.

Đầu tháng 12 tây tôi đã lo tra lịch ta xem ngày giỗ ông Nội tôi trong tháng Chạp ta, ngày đưa ông Táo và 3 ngày Tết tương ứng với lịch tây như thế nào để thu xếp ngày nghỉ làm; ngày mua đồ đạc để nấu các món cổ truyền. Ở cái xứ khỉ ho cò gáy này, không phải búng tay là có những sản phẩm Á Đông! Rất nhiều thứ tôi phải đặt mua riêng với tiệm thực phẩm Á Đông (vốn nhỏ xíu). Hoa trái chưng cúng cũng phải cân nhắc mua lúc nào để được tươi tắn vào ngày Tết. Tết Việt Nam luôn rơi vào mùa đông tại Âu Châu. Nếu mua sớm quá, hoa quả sẽ không còn tươi đẹp do ảnh hưởng hơi nóng lò sưởi. Mùng một Tết mà bó hoa chưng bàn thờ “gục đầu thổn thức” thì coi như “xong tuồng” nguyên năm. Chưa kể cái màn mua hoa Forsythia (thế cho Mai), về nhà ép sao cho hoa nở vàng choé đầy cành để lấy hên vào ngày Mồng Một cũng là một “nghệ thuật”. Có năm tôi thất bại, hoa nở lác đác, thiệt tình, tôi lảo đảo như say cả năm! (dị đoan thứ thiệt!). Có người nói, rắc rối vậy thì đừng chưng hoa này cho yên tâm. Sao mà được! Tết không hoa mai vàng sao ra màu Tết? (dù chỉ là thay thế). Chuyện này không khác gì chuyện xin Xâm. Ai cũng sợ cây xâm xấu mà đầu năm ai cũng xin xâm! Theo Âu Mỹ là “no risk no fun” tôi sửa thành “no risk no luck”.

IMG_3440Hoa Forthysia thế hoa Mai vàng

Tôi luôn tự biên tự diễn các món Việt Nam cổ truyền của ngày Tết cho chắc ăn, như vậy vừa không sợ bị tổ trác đầu năm (như là mua trúng đòn bánh tét gói bị “nín”) mà vừa có thể tránh bị đầu độc bởi chất hoá học trong đồ ăn làm sẵn nhập cảng. “Bày vẽ” vậy nhưng tôi lại chẳng thấy cực chút nào, trái lại rất vui và ấm lòng tha hương. Nhiều bạn quen thường khuyên tôi kiếm người khéo tay đặt làm cho nó khoẻ, hà cớ chi cực khổ tấm thân. Họ không hiểu là những khi bày biện nấu giỗ hay nấu Tết, tôi như được sống lại cái không khí gia đình ấm êm hạnh phúc ngày nào tại Sài Gòn. Dường như là má tôi vẫn còn đây, cười nói huyên thiên, điều khiển cả nhà kẻ làm cái này, người nấu món kia. Trong mơ tưởng đó tôi cảm giác được niềm hạnh phúc vô biên của mình, thậm chí có khi cười một mình. Sau đó, khi quay về thực tại thì không nén được nỗi buồn tha hương biệt xứ của đứa con mồ côi. Tôi nghĩ rằng, nỗi buồn mồ côi cũng như nhau ở mọi lứa tuổi, có thể khi chính mình có con cái lại càng sâu thẳm hơn.

May mắn cho tôi là công tử nhà tôi lại thích nấu ăn (di truyền của cả cha và mẹ!) Cho nên, tôi cũng muốn làm để truyền nghề cho nó. Mà cái tánh ích kỷ muôn đời nằm trong DNA: “con nhớ cái này là bí quyết bà ngoại dạy cho mẹ, đừng kể cho ai nhen”. Cho nên kể từ ngày chàng có cái web về đồ ăn, hay hỏi tôi “Cái này dạy được không mẹ?” Tôi phì cười…kể ra nó cũng biết để ý để tứ, biết cái tánh “khó thương” của mẹ nó.

IMG_3557Mâm cơm ngày Tết (tự biên tự diễn)

Còn một chuyện cũng không kém phần quan trọng lắm đối với tôi khi Tết về. Đó là ngày khai đàn Đạo Tràng Pháp Hoa trên chùa. Từ chục năm nay, tôi đều cố gắng tham dự Đạo Tràng. Một ngày dài tụng trọn bộ kinh Đại Thừa này không phải “dễ nuốt”, nhưng thời kinh đầu năm cúng dường chư Phật sẽ mang lại cho tôi niềm tin và sức mạnh để đi suốt một năm dài. Ấy là chưa kể về chùa, gặp bạn đạo, nói chuyện vui, nhắc chuyện Tết quê nhà đủ làm ấm lòng kẻ tha hương giữa mùa đông lạnh.

IMG_0646Đạo tràng Pháp Hoa tại chùa Viên Giác (Hannover, Đức)

Khá lâu rồi, khi Tết về, bà con Việt Nam nơi này hay rủ nhau mua vé bay về Việt Nam ăn Tết. Tội nghiệp cho họ, phải “lặn lội về tới Việt Nam ăn Tết”. Ừ thì cũng hiểu cho họ, còn cha còn mẹ, nay có cơ hội thì về, trước thăm gia đình, sau thì hưởng Xuân. Nhưng nếu chỉ như vậy thì còn rán chấp nhận, nhưng không, họ kéo theo một tràng quảng cáo không công cho cái chế độ đỏ lòm bên nhà. Tôi dị ứng với những chuyện này nên thường giãn ra, né đi cho xong, nếu không, thế nào tôi cũng xách mé, đâm ra bực lòng mình đầu năm. Vào ngày thiêng liêng cần cho an lạc để suốt năm vui vẻ.

Viết tới đây tôi lại nhớ cái chuyện tin dị đoan thông lệ của má tôi: “Ngày Tết hễ vui thì vui suốt năm, có tiền vô thì sung túc suốt năm, có may mắn thì may mắn suốt năm”. Cho nên, Tết đến là bà châm đầy gạo, muối, đường. Bàn thờ chưng vun đầy lộc quả tươi, hoa đẹp, đủ màu. Tối kỵ không cúng chuối, không cúng cam vì sợ chúi nhũi, cam khổ (người Nam phát âm chúi hay chuối… same same như nhau!) Không quét nhà đổ rác (sợ tiêu hao) Có lần tôi cắc cớ hỏi bà “Vậy thì đánh bài gầy sòng đầu năm thua tiền thì sao?” Má tôi trả lời gọn ơ, “Thì coi như xổ xui, còn gì nữa?”

Nhớ lại tôi phục má tôi quá xá. Kiểu gì bà cũng ứng biến được, dù khi đám cưới với ba tôi, bà chỉ là một cô gái quê, chữ viết không hơn cái lá mít, quen chuyện đồng áng vườn tược hơn là cây viết tờ giấy.

Chuyện này nhắc tôi những ngày mới tới xứ Pháp. Má tôi phải đi học Pháp văn trong chương trình chính phủ Pháp giúp cho người tỵ nạn có bảo lãnh (khác với người tỵ nạn boat people, họ được chính phủ Pháp công bằng, giúp đỡ trên nhiều lãnh vực và lâu dài hơn). Ba tháng này má tôi giọt vắn giọt dài.Với bà thầy thì ít mà với ba tôi thì nhiều. Ba tôi vốn là thầy giáo tốt nghiệp dưới đời chính phủ Tây bảo hộ, nói tiếng Tây rào rào. Ông dạy má tôi chia động từ hoài không xong. Bà cứ lộn tùng phèo mấy cái thì quá khứ. Khi thì chia với être, khi thì với avoir… Tới một lúc nào đó thì ba tôi quên mất mình đang dạy vợ mà tưởng là mình đang dạy học trò… thế là có người ôm tập ra khỏi phòng, khóc ấm ức cho tới khi được ông thầy dỗ ngọt mới yên!

Ở xứ này, các món ăn cổ truyền, tôi còn rán làm được hết nhưng thật chịu thua món mứt. Tôi nhớ những thố mứt trong và óng ánh vàng bắt mắt, chẳng những thấy ngon lành mà ăn cũng “pas chê” của má tôi. Nhà tôi ngày xưa ở Sài Gòn không bao giờ mua mứt bán ngoài chợ. Má tôi duy nhất chỉ đặt người quen làm mứt bí và mứt củ năng. Mứt hột sen thì mua của tiệm Bảo Hiên Rồng Vàng. Còn lại thì nhà làm lấy như mứt dừa, me, mãng cầu, gừng dẻo và mứt trái tắc (loại mứt này của má tôi không tròn xoe, coi đẹp và chứa đầy đường ngọt như ngoài chợ mà là dẹp xuống nhưng còn đầy đủ vị chua ngọt và mùi thơm).

Qua đây má tôi có dạy cho tôi làm mứt Tết, nhưng khó làm quá, vật liệu khó kiếm đầy đủ và nhất là không thể áp dụng vào cách nấu tân tiến bếp điện thời nay nên tôi thật giơ tay đầu hàng.

Mùa đông năm nay tại đây ấm lạ lùng. Các củ hoa crocus ngoài vườn đang bừng dậy với những búp măng xanh mướt. Cuộc sống đang hồi sinh dưới nền đất khô và lạnh cóng. Tôi chợt nghĩ, hạnh phúc biết bao khi Tết này bỗng chợt nhận tin: Tự Do, Nhân Quyền, Hạnh Phúc và Công Bằng đã hồi sinh tại quê hương Việt Nam vốn đã khô cằn đầy máu và nước mắt 40 năm nay. Sẽ là cái Tết ý nghĩa nhất của cuộc đời tôi.

lê ngọc tuý hương
tháng chạp Giáp Ngọ 2014.

 

Advertisements

Dê ơi là dê, Phan Hạnh

 

dold

 

Cứ đến năm thuộc con giáp nào, các tay ngứa ngáy viết lách lại cố đi tìm những chuyện liên quan đến con giáp đó để nói. Nhưng nói riết rồi cũng hết, chẳng lẽ xào đi xào lại hoài những điều đã cũ và hầu như ai cũng đã đều biết. Thiệt khổ ghê. Năm ngoái gặp con ngựa cũng đỡ vì ngựa đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người hơn, gắn bó với tiến trình lịch sử nhân loại hơn nên có nhiều chuyện để viết hơn. Còn năm Ất Mùi này có gì về con dê để nói? Đối với dân Mít ta, nó chỉ nổi tiếng qua khả năng giao phối siêu đẳng của nó. Chính vì vậy mà giới đàn ông dê tôn nó làm sư phụ hay ông thầy, thiếu điều gọi nó là vua Minh Mạng.

Giáo sư tiến sĩ tâm lý học Steve Bearman ở Đại học California, Santa Cruz giải thích lý do tại sao đàn ông luôn bị tình dục ám ảnh. Ông nói tình dục thực sự là một nguồn tiềm năng của tình yêu và niềm vui, sự thân mật, sự hấp dẫn, và vẻ đẹp. Quan hệ tình dục đáp ứng được những nhu cầu này, mà nhu cầu chỉ được thực hiện bằng cách làm sao cho dương lực của người đàn ông trở nên mạnh mẽ. Đàn ông xem tình dục là con đường dẫn tới sự thân mật thực sự, sự gần gũi hoàn chỉnh để công khai hóa tình yêu, mang lại niềm vui và mong muốn, sức sống và sự phấn khích. Khi họ yêu, họ muốn thể hiện nó qua ngã tình dục. Đây là lý do tại sao những người đàn ông thường bị ám ảnh với tình dục. Nó nhanh chóng trở nên gây nghiện đối với hầu hết nam giới.

Ông nói dương lực là do lượng hormone và kích thích tố nam testosterone có nhiều trong cơ thể. Mà như chúng ta biết, tất cả thành chất trong cơ thể đều do thực phẩm hoặc dược phẩm chúng ta dùng, đúng với câu ăn gì bổ nấy (you are what you eat). Thịt dê có chứa các hợp chất tương tự như hormone sinh dục nam, đặc biệt trong thực phẩm chế biến từ dái dê. Do đó, chuyện thịt dê tăng khả năng tình dục của nam giới thì cũng được các chuyên gia dinh dưỡng khẳng định có phần đúng. Dùng nhiều thực dược phẩm có chất kích thích thì sung và nghĩ đến chuyện tình dục là phải rồi. Theo Bearman, trung bình người đàn ông nghĩ đến chuyện tình dục khoảng 19 lần mỗi ngày. Để giải tỏa sự đòi hỏi, họ phải tán tỉnh, ve vản đối tượng của họ giống như một con dê đực nên họ bị gọi là dê xồm, bất chấp họ có để râu dê như ông tướng Nguyễn Khánh hay không.

Chỉ cần nhìn thấy một phụ nữ trẻ đẹp có vài đường nét khiêu gợi như một cặp chân dài, giọng thỏ thẻ ngọt ngào quyến rũ, một mùi nước hoa nồng nàn, mái tóc dài dịu dàng cũng đủ để kích thích họ nghĩ về tình dục. Đối với họ, khả năng tình dục được họ xem là bản lĩnh đàn ông và là một niềm tự hào thầm kín. Bị giảm hay mất năng lực này sẽ giáng một đòn nặng vào lòng tự tôn của họ, ngay cả khi không nói ra thì không ai biết, nhiều quý ông vẫn cảm thấy bị mất mặt. Thế là họ tìm đủ mọi cách để tăng cường khả năng trận mạc giường chiếu. Họ chiếu cố đến dê, nhất là bộ phận chiến lược của nó: pín dê và dái dê. Ngay cả cà tím, chỉ vì hình thù nó trông giống dái dê, cũng được phe đàn ông ưa thích, nếu dái dê nấu lẩu với cà dái dê thì càng tốt.

Tái dê chấm với tương bần
Ăn vào nó cứ bần bần như dê
Đêm về vợ lại tỉ tê
Tối mai ta lại tái dê tương bần.

Bài “Ăn thịt dê có bổ dương không?” của tác giả Minh Châu có đoạn “Nghe mấy tay nhậu kháo nhau về những món ăn từ dê, chỉ cần ăn thử một lần là trong người sẽ nóng lên rạo rực bừng bừng… Ai mà chẳng khoái. Nhất là quý ông lại thường rất quan tâm đến việc chọn thực phẩm có dính dáng đến chuyện ấy. Để đáp ứng nhu cầu cho quý ông, các quán chuyên thịt dê ở nước ta mọc lên ngày càng nhiều có dấu hiệu ngày càng đắt hàng hơn. Họ chế biến thịt dê thành đủ món hấp dẫn. Nhà hàng nào cũng quảng cáo về công dụng của thịt dê, coi đó như là cứu tinh của đàn ông.”

Khi nhắc đến món thịt dê, đặc biệt là dái dê, họ nghĩ ngay đến hành quân trên giường vì họ nghĩ món ăn đó có tác dụng bổ dương tráng khí. Chuyện đó đúng hay không, thực sự người viết không biết. Người viết nghe nói đến cả đống những món dê; tuy chưa ăn nhưng người viết nghĩ chắc cũng ngon. Vậy mà chẳng hiểu sao cả nhà người viết kể từ thời ông bà đến cha mẹ đến vợ con cũng chẳng ai nấu các món này cả.

Những người thuộc trường phái đi Nga (đa nghi) đưa ra nghi vấn việc ăn các món ăn từ dê -đặc biệt là tinh hoàn dê hay ngẩu pín dê- có thực sự bổ cho cậu nhỏ hay không. Chưa chắc, vì chưa được chứng minh một cách khoa học. Sự cho rằng ăn gì bổ ấy chỉ là sự suy luận theo kiểu người Tàu, báo hại tê giác thiếu điều bị diệt chủng. Cái gì tốt cho con dê chưa chắc đã tốt cho con người. Việc cơ thể có hấp thụ hay chuyển hoá các hormone đó hay không chưa có công trình nghiên cứu nào xác nhận.

Ấy vậy mà tại Mỹ, một bác sĩ đã từng dám ghép dái dê cho người đó bạn ạ. Bạn không nghe lầm đâu. Đây là một câu chuyện có thật đó, có tài liệu lưu giữ lại rất đầy đủ chi tiết. Nó từng được cho là câu chuyện hấp dẫn nhất trên nước Mỹ trong thế kỷ trước.

H.1Đó là bác sĩ John Richard Brinkley, sinh ngày 8 tháng 7 năm 1885 tại vùng núi Great Smoky Mountains thuộc quận hạt Jackson, tiểu bang North Carolina trong một gia đình nghèo. Năm 17 tuổi, Brinkly vào văn phòng Viện Trưởng Trường Đại Học Y Khoa Johns Hopkins và nói chàng muốn học để trở thành bác sĩ. Viện trưởng nhìn cậu thiếu niên, không lấy gì làm tin tưởng, khuyên cậu ta nên quay về quê là hơn.

Trong suốt 15 năm, Brinkley đeo đuổi mộng bác sĩ, theo học Trường Cao Đẳng Y Khoa Bennett Medical College ở Chicago, Illinois. Năm 1905, Brinkley lại theo học một trường y không chính thống dạy trị liệu bằng phương pháp tự nhiên và dược thảo tên là Eclectic Medical University ở thành phố Kansas, bang Kansas. Năm 1017, Brinkley tốt nghiệp, tìm việc, và nhận lời về làm bác sĩ cho bệnh xá thị trấn Milford, tiểu bang Kansas thay thế cho một bác sĩ về hưu. Dù Milford chỉ là một thị trấn nhỏ với độ vài trăm dân cư, nhưng bác sĩ Brinkley quyết định chọn nơi này để khởi nghiệp.

Brinkley giành được cảm tình dân cư địa phương ngay lập tức do ông trả lương nhân viên hậu hỉ, tiếp thêm sinh lực cho nền kinh tế địa phương và chịu khó đến tận nhà bệnh nhân trong trận đại dịch cúm năm 1918 ở Mỹ. Vết nhơ tai tiếng lang băm trước đó của Brinkley dần dần mờ xóa. Công lao chữa lành các nạn nhân cúm và sự đối xử tận tâm của ông với họ đã gây được tiếng vang tích cực. Nhưng chính vụ cấy tinh hoàn dê cho chàng nông dân Bill Stittsworth mới đưa bác sĩ Brinkley lên đài danh vọng và nổi tiếng như cồn.

Một ngày đẹp trời nọ Stittsworth đến xin khám bệnh, bác sĩ Brinkley vui vẻ hỏi “Tôi có thể giúp gì cho ông không?” Stittsworth ngượng ngùng kể “Bác sĩ ơi, tôi bị chứng bịnh thằng lớn nói, thằng nhỏ không nghe” và hỏi có thể nào bác sĩ Brinkley chữa giúp cho bệnh bất lực sinh lý này hay không. Brinkley giải thích rằng bất chấp mọi tiến bộ y học gần đây vẫn chưa tìm ra phương cách chữa trị chứng bất lực. Stittsworth thất vọng thở dài. Tình cờ khi nhìn ra cửa sổ, chàng nông dân nhìn thấy một con dê đực đang hành sự mạnh mẽ trên một con dê cái. Chàng ta buộc miệng đùa: “Phải chi tôi có một cặp tinh hoàn như con dê kia hả bác sĩ?” Cả hai người, bệnh nhân và bác sĩ, cùng cười lên với ý tưởng ngộ nghĩnh đó. Thế rồi chàng nông dân can đảm gợi ý: “Hay là bác sĩ cứ thử cấy cho tôi cặp hòn của con dê xem sao. Chắc cũng dễ giống như tôi ghép táo ngọt với táo chua vậy thôi mà.”

H.2

Quá đỗi kinh ngạc, Brinkley chống chế, ai lại đi làm chuyện điên rồ ấy bao giờ! Cấy tinh hoàn dê cho người để chữa bệnh bất lực? Phi đạo đức quá!

Chàng nông dân cố năn nỉ: “Vâng, thưa bác sĩ, tôi biết. Nhưng điều gì cũng không thể tồi tệ hơn cặp ngọc hành vô dụng này. Bác sĩ chỉ thí nghiệm một lần thôi. Nếu nó không hiệu quả, tôi thề là tôi sẽ không tiết lộ với ai.”

Ông bác sĩ nghe xuôi tai và nghĩ thôi thì cứ giúp cho gã một lần. Sau đó cuộc giải phẫu được thực hiện với giá 150 đô. Rồi vợ Stittsworth có bầu, sinh ra một bé trai khỏe mạnh. Stittsworth đặt tên con là Billy, trong tiếng Anh có nghĩa là con dê đực. Sau này, Billy kể với phóng viên của tờ báo The Kansas City Star rằng thực ra chính bác sĩ Brinkley đã đề nghị cấy tinh hoàn dê miễn phí để thí nghiệm.

Stittsworth hớn hở đến phòng mạch vừa hát ư ử bài “Và con chim đã vui trở lại”, bác sĩ Brinkley mừng vô kể; ông không ngờ chuyện kỳ cục này lại có hiệu quả. Ông không thể che giấu một thành quả y khoa táo bạo như thế này. Ông nhận ra rằng ông phải công bố cho cả thế giới biết về phép lạ chữa bệnh này. Tuy nó chỉ là một phát hiện khá tình cờ nhưng nó đã chứng minh thành công với bệnh nhân bất lực do ông giải phẫu.

Khi các bác sĩ chính thống thách thức và nhất định cho rằng cách chữa trị đó không thể nào hữu hiệu, Brinkley nói, “Bằng chứng là kết quả sờ sờ đây này! Thật quá đơn giản! Quý vị chỉ cần hỏi bệnh nhân của tôi thì biết ngay!”

Tiếng lành đồn xa, tại bệnh xá Milford loại “walk-in clinic” không cần lấy hẹn trước, nhiều bệnh nhân đàn ông sồn sồn hơn đến gặp bác sĩ Brinkley với hy vọng khôi phục lại dương lực và khả năng truyền giống thông qua việc cấy ghép tuyến tinh hoàn dê. Bấy giờ bác sĩ Brinkley đã tăng giá mỗi ca giải phẫu lên thành US$750.00, tương đương với cả chục ngàn đô theo thời giá bây giờ.

Brinkley cấy ghép tinh hoàn dê cho tổng cộng 34 thân chủ, trong đó có một thẩm phán, một ông hội đồng thành phố, và một viện trưởng Đại học Luật Khoa Chicago, tất cả đều có sự theo dõi của báo chí. Sự chú ý của công chúng càng lớn, công việc kinh doanh cấy tuyến dê của ông tại Milford càng tiếp tục diễn ra với tốc độ nhanh hơn.

Thật ra trước đó, một số bác sĩ khác cũng đã từng thử nghiệm cấy ghép tuyến rồi, trong đó có bác sĩ Serge Voronoff, người đầu tiên trở nên nổi tiếng ghép tinh hoàn khỉ cho người. Năm 1920 Voronoff chứng minh kỹ thuật của ông tại một bệnh viện ở Chicago trước sự chứng kiến của một số đồng nghiệp.

H.3Năm 1922, Brinkley đã đến Los Angeles theo lời mời của Harry Chandler, chủ nhiệm của tờ Los Angeles Times. Chandler thách thức Brinkley hãy cấy ghép tinh hoàn dê cho một trong những biên tập viên của tờ báo. Chandler tuyên bố nếu cuộc giải phẫu thành công, ông sẽ tuyên dương Brinkley là “bác sĩ phẫu thuật nổi tiếng nhất ở Mỹ”. Và nếu cuộc giải phẫu thất bại, ông sẽ xem mình như là thứ đồ chết tiệt.

Tiểu bang California không công nhận giấy phép hành nghề bác sĩ của Brinkley (do Trường Đại học Y Khoa Chiết Trung Kansas chuẩn cấp), nhưng Chandler đã khéo léo chạy chọt được cái giấy phép hành nghề tạm có hiệu lực trong 30 ngày cho Brinkley. Cuộc giải phẫu được đánh giá là một thành công, và Brinkley đã nhận được sự chú ý như đã hứa qua một bài báo của Chandler. Điều này khiến cho Brinkley có thêm nhiều khách hàng mới, trong đó có một số ngôi sao điện ảnh Hollywood.

Brinkley rất muốn dời phòng mạch về vùng Los Angeles vì bệnh nhân toàn thuộc hạng giàu có tiếng tăm. Nhưng hy vọng của Brinkley đã tiêu tan khi Ủy Ban Y Tế California thẳng thừng từ chối cấp cho ông giấy phép vĩnh viễn hành nghề y vì tìm thấy sơ yếu lý lịch của ông “đầy dẫy những dối trá và sai biệt”. Brinkley trở lại Kansas không hề nản chí và bắt đầu mở rộng phòng mạch của ông tại Milford.

Chuyện gì đến sẽ đến. Sau đó, do tham việc -hay đúng hơn là tham tiền và danh vọng-, Brinkley bận rộn hơn, căng thẳng hơn, gấp gáp cẩu thả hơn, phải dựa vào men rượu. May mắn không thể đến mãi cho một bác sĩ không có học khoa giải phẫu đàng hoàng như Brinkley, một số vụ nhiễm trùng và cơ thể con người nhất định từ chối không chịu nhận tuyến sinh dục lạ đã xảy ra đưa đến cái chết của bệnh nhân. Trong khoảng thời gian từ năm 1930 đến năm 1941, Brinkley đã bị kiện hơn một chục lần vì giải phẫu sai quấy làm chết bệnh nhân. Brinkley bị tước bằng hành nghề bác sĩ, nhảy qua kinh doanh trong vài lãnh vực khác, trong đó làm đài phát thanh, bị xử thua trong nhiều vụ kiện và thân bại danh liệt.

H.4

Ông tuyên bố phá sản vào năm 1941. Ngày 26 Tháng 5 năm 1942, Brinkley ngã ra chết vì biến chứng nghẽn mạch máu trong lúc những vụ kiện còn chờ đưa ra xét xử. Trong gần 57 năm của cuộc đời, Brinkley đã đạt được sự giàu có, quyền lực, và danh vọng. Tuy nhiên, điều mà ông mong mỏi nhất là sự kính trọng lại lảng tránh ông đến cùng. Cho dù ông thực sự tin tưởng vào hiệu quả của phương pháp chữa trị bệnh bất lực một cách quái gỡ đi ngược lại với qui luật của Hiệp Hội Y Học Hoa Kỳ (AMA), người đời sau thường nghĩ đến ông như là một lang băm điên rồ không hơn không kém.

Kể từ khi Brinkley chết rồi cho đến nay không còn bác sĩ nào dám cấy dái dê cho người nữa. Những ai muốn tăng cường khả năng tình dục đành trở về với các món ăn lẩu dê, dê nướng ngũ vị hương, dê xào lăn, dê xào sa tế, dê hấp cách thủy, gan dê hầm, tiết canh dê, dê con quay, rượu tiết dê, dê nấu rựa mận, xáo măng, sườn dê nướng, ngọc dương hầm thuốc Bắc, chân móng dê hầm thuốc, tái dê, dê tiềm thuốc Bắc… Nếu sợ ăn thịt dê nhiều lâu ngày cũng sẽ hôi như dê thì bạn chịu khó xin toa bác sĩ mua các loại thuốc trợ dương Viagra, Levitra, Cialis, Soma, Propecia, Acomplia, Xenical xài đỡ nhé.

Chúc bạn một năm Ất Mùi thật sung!

Phan Hạnh.

Tôi nuôi dê, Phan Hạnh

tnde2

Phan Hạnh
(phóng tác theo một câu chuyện thật).

Cái nghiệp nuôi dê đến với tôi chỉ do một sự tình cờ. Sau một cơn mưa bão nọ, đùng một cái bỗng đâu có một con dê đi lạc vào khu nông trại mới mua của vợ chồng tôi ở Breslau gần thành phố Kitchener như thể trên trời rớt xuống. Đúng là của trời cho.

Vậy là chúng tôi giữ nó nuôi chơi. Trước đó, tôi –một thằng dân tị nạn- có hiểu biết tí gì về chăn nuôi đâu, dù chỉ là một con gà. Cho nên, thấy nó có sừng, tôi cứ tưởng nó là dê đực. Tới chừng quan sát nó kỹ hơn một chút, nhất là nhìn nó từ đàng sau khi nó đi, tôi chẳng thấy có cái gì toòng teng “lắc lư con tàu đi” cả. Cái chỗ hai túi dết súng đạn trống không. “Vậy thì nó đúng là một nàng rồi”, tôi đơn giản nghĩ. Thế là vợ tôi đặt cho nó cái tên là Đẹp, vì trông nó cũng dễ thương.

Chúng tôi nuôi nó được một năm hoặc lâu hơn chút xíu thì trước lễ Mother’s Day Ngày Mẹ Hiền vài bữa, bỗng dưng một ông bạn, người Canada làm chung hãng đã lâu đời trước tôi và sắp về hưu, hỏi tôi có muốn một con dê đực không thì ổng cho như là một món quà. Chẳng là trong lúc giao thiệp giữa bạn đồng nghiệp với nhau, tôi có kể cho ổng nghe chuyện một con dê cái đi lạc vào đất vườn nhà tôi. Tôi còn nhớ ổng gọi đó là một “godsend”. Tôi trớ mắt ngạc nhiên. Dường như ổng đoán được ý tôi nên nói: “Cho không! Không bán!” Ngon ơ vậy đó! Chu mẹc ơi, có ai ngờ tự dưng tôi có một cặp dê để nuôi mà không tốn một đồng xu cắc bạc nào. Biết đâu nếu tôi khéo léo và trời thương, sau này tôi sẽ có được một tài sản là một đàn dê và tất cả mọi thứ đều miễn phí!

Thế là tôi hăm hở xách chiếc xe hơi Volkswagen cà tàng loại sang số tay của tôi đi đón nó về. Tôi đặt nó đứng hai chân sau dưới sàn xe, hai chân trước trên nệm ghế hành khách. Tôi phải vừa bẻ lái xe và sang số bằng tay trái và đầu gối, vừa giữ kềm sừng nó bằng tay mặt. Như bạn biết, Ngày Mẹ Hiền rơi vào ngày Chủ Nhật đầu tiên của Tháng Năm lúc thời tiết Canada còn lạnh cho nên tôi đóng kín các cửa kính xe. Đến khi chiếc xe đang chạy trên con đường quê chưa tráng nhựa gập ghềnh bận về, tôi thực sự không rảnh tay để mà quay hé cửa kính xe xuống. Chắc bạn biết mục đích để làm gì rồi. Trong chiếc xe bít bùng kín hơi, mùi của con dê đực tra tấn lỗ mũi tôi muốn nín thở. Mà nó có chịu đứng yên để được tài xế là tôi chở nó đi chơi ngắm cảnh một chuyến đâu. Nó vùng vằng nhích tới nhích lui khiến cho tôi phải cố kềm chặt cái sừng bự thô nhám của nó đến độ năm ngón tay tôi mỏi nhừ. Nó ngứa râu hay sao đó cho nên nó tìm cách cạ cằm nghe sồn sột vào bất cứ chỗ nào mà nó có thể cạ được trong xe. Sau này tôi mới hiểu mấy con thú hay có thói quen làm dấu bằng mùi để xác định lãnh thổ. Nhưng chiếc xe là của tôi chớ nào phải của nó đâu.

Eo ơi, cái mùi dê của nó mới thật là khủng khiếp, một cái mùi lạ lùng không giống bất cứ thứ mùi nào mà tôi đã từng được hay bị ngửi trước đó. Nó hôi nồng hăng hắc hơn mùi con chồn hôi (skunk) nhiều. May mà những người tuổi Mùi con dê như tôi không bị mùi dê. Cám ơn trời, tôi chỉ chịu đựng gần nửa giờ đồng hồ là đã tới nhà.

Vợ tôi -một thôn nữ người Canada gốc Đức nhà quê Sorbian- ra đón, tôi dắt con dê xuống xe đưa nó cho nàng và nói:

“Đây là món quà anh muốn tặng em nhân Ngày Mẹ Hiền.”

Chắc tôi cũng nên giải thích tổng quát tình hình một chút xíu, vì tôi không muốn bất cứ ai nghĩ rằng tôi là thằng chồng bần tiện dùng một món đồ lượm làm quà cho vợ. Sự thật là vào ngày Thứ Bảy hôm trước đó tôi có tới dự một cuộc bán đấu giá trong thị trấn nhỏ này và mua được một máy cắt cỏ còn mới chạy điện tự khởi động hiệu Sears chỉ có 45 đô, thật quá rẻ! Tưởng sao, khi tôi mang về đưa cho nàng thì nàng bảo:

“Trời đất quỉ thần ơi! Em chưa thấy ông chồng nào mua máy cắt cỏ làm quà cho vợ bao giờ! Như vậy chẳng khác nào anh gián tiếp giao việc cắt cỏ cho em!”

Nàng nhất định không chịu nhận món quà máy cắt cỏ cho nên tôi mới tặng nàng con dê, một thứ máy cắt cỏ không gây tiếng động và “thân thiện với môi sinh”. Chỉ phiền một điều là suốt mấy tuần lễ liền, nàng nhất định không chịu leo lên xe đi chung với tôi vì mùi dê đã bám dính vào ghế ngồi dễ gì tan hết sớm vậy.

Thế rồi tôi dắt con dê đực -mà tôi cũng đặt tên cho nó là “Đực” luôn cho gọn- tới giới thiệu với Đẹp. Thiệt chẳng khác nào tôi làm mai, cái dại nhất trên đời. Tôi ngắm nghía hai con dê đứng cạnh nhau và cảm thấy rất hài lòng. Bây giờ tôi mới thấy hai con dê khác nhau rất nhiều. Đực có cặp sừng to hơn, râu dài hơn và… hôi hơn. Điểm khác biệt nổi bật nhất chính là cặp túi dết to đùng nó mang lòng thòng giữa hai chân sau treo lơ lửng trên mặt đất. Đẹp đứng kế Đực trông dễ thương hơn với cặp sừng ngắn nhỏ xíu và cái đuôi cong xoắn.

Tôi chưa kịp đóng vai ông mai xe duyên cho đôi trẻ thì Đực đã có hành vi lãng mạn ló mòi dê. Chưa gì chàng ta đã nhún nhảy cà tưng chộn rộn, lăng xăng lít xít nhắng cả lên. Đến khi chàng xoa cằm đầy râu vào mông nàng, nàng không chịu nên xoay người qua hướng khác. Và cứ mỗi lần chàng ta dự định “lên ngựa”, nàng chạy tránh đi.

Tôi thường tự cho mình là một người kiên nhẫn, và thế là tôi bắt ghế ngồi dưới mái hiên, thưởng thức một vài lon bia sau một ngày làm việc và theo dõi sự thể đã đi tới đâu rồi, cặp dê đã làm ăn gì chưa. Nhưng sau nhiều ngày thấy cô dê vẫn làm khó “em chả”, tôi thấy như vậy là quá đủ rồi và nghĩ tôi cần phải giúp thằng Đực một tay. Dẹp mấy lon bia qua một bên, tôi bước ra nhà chuồng, dùng hai tay kềm chặt sừng con Đẹp cho nàng đứng yên một chỗ. Chỉ chờ có thế, Đực phô bày bản lĩnh giống đực, áp vào làm phận sự liền, nhoáng một cái là xong.

Tôi tự bào chữa cho hành động tiếp tay của mình rằng bây giờ tôi đã là một nông dân, nhân danh trời đất, tôi phải làm sao cho dê tôi nuôi sinh con đẻ cái chớ. Xong! Bây giờ tôi chỉ việc chờ một bầy dê con ra đời. Ủa mà chu kỳ dê mang thai là bao lâu cà?

Nhưng tôi đúng là một gã nông dân bất đắc dĩ khờ khạo cù lần chẳng hiểu gì nhiều về loài dê. Số là sau lần được tôi giúp cho việc giao phối, con dê đực của tôi lại tiếp tục có hành vi lãng mạn tìm cách làm chuyện ấy với Đẹp nữa.

Dù sao nó làm mới có một lần (nhờ có tôi giúp đỡ), coi bộ chưa thấm thía gì. Nó cứ bám theo Đẹp để sẵn sàng tiếp tục “làm” nữa nếu có cơ hội. Nhưng chẳng lẽ tôi theo phụ nó hoài? Tội nghiệp Đẹp phải liên tục né tránh sự tấn công quấy nhiễu tình dục của thằng cha Đực dê xồm. Đẹp chạy khắp nơi trên đồng cỏ đến cái mức thậm chí tôi bắt đầu cũng thấy bị làm phiền! Tôi suy nghĩ, có thể dê là một trong những loài động vật suốt đời chỉ giao phối với một bạn tình như người ta không? Tôi nghĩ biết đâu nàng ta đã có bạn đời ở nơi cư ngụ cũ trước khi nàng đi lạc tới đây? Nàng chung thủy với mối tình xưa? Hay là vào lúc ban đêm nàng đã bị thằng Đực râu xồm hành hạ tơi bời rồi nên ban ngày nàng chạy dài?

Unbenannt

Trong khi đó, vì không có chỗ giải quyết, chàng Đực nhà ta xuất tinh và nước tiểu rồi dùng râu cằm thay cho cây cọ quẹt mùi hôi đánh dấu bất cứ đâu: mỗi cột hàng rào, vách chuồng, cái bơm nước giếng, bể chứa nước và máng ăn. Chẳng bao lâu, toàn bộ trang trại của vợ chồng tôi bắt đầu có mùi tinh dịch và nước tiểu dê đực! Nó tệ đến nỗi khi tôi ngồi nơi bàn ăn một buổi tối nọ với gia đình gồm vợ chồng tôi, đứa con gái 3 tuổi, và má vợ tôi –cũng là người bảo lãnh cho tôi tới Canada-, mọi người nhăn mặt bảo sao tôi hôi dê quá. Hóa ra là tôi hay dựa vách chuồng nhâm nhi lon bia và tự hỏi Đẹp sẽ còn tránh né sự gạ gẫm của chàng Đực dê xồm được bao lâu nữa?

Đến Ngày Cha Hiền Father’s Day vào khoảng giữa Tháng Sáu, vợ tôi mua cho tôi một món quà. Tối hôm đó, khi chúng tôi đã ngồi vào bàn ăn, nàng trao cho tôi một cái hộp không lớn lắm gói giấy hoa có cột dây ruy băng xung quanh bốn phía tử tế. Nói thật, tôi không kỳ vọng nhiều ở món quà, đúng ra là tôi không mong đợi gì cả. Nhưng khi tôi mở món quà và liếc nhìn vợ yêu của tôi, cặp mắt xanh của nàng ngời sáng lấp lánh và một nụ cười nghiêm trọng nhưng vui tươi trên khuôn mặt. Tôi quay lại nhìn món quà nhỏ của tôi và thử đoán xem nó mang ý nghĩa gì. Và tôi đã hiểu! Tôi cười ngượng ngùng:

“À… Thì ra Ngày Mẹ Hiền anh tặng em con dê hôi rình nên Ngày Cha Hiền em tặng lại anh chai dầu thơm! Cám ơn em.”

Thế rồi bạn có biết sao không? Sau bữa ăn, tôi xách lọ nước hoa ra chuồng dê. Tôi xịt tưới xượi vô hạ bộ của con dê đực hôi rình đó. Tôi còn mở luôn nắp chai và rưới nước hoa lên đầu của nó nữa.

Nếu như có bất cứ thứ chìa khóa nào để mở cho tất cả các quỷ dữ từ địa ngục thoát ra cùng một lúc thì chính tôi vừa thực hiện hành động đó. Khi nước hoa nhỏ giọt chảy từ đầu của Đực xuống hai lỗ mũi, nó thè đôi môi và chìa cằm ngướng cổ ra phía trước như nó từng làm kể từ ngày tôi đưa nó về đây. Nhưng rồi, tôi đoán mùi nước hoa đã thấm vào thân mình nó và thay đổi thực thể của nó, và nó bắt đầu hành động như bị bùa ám, thốt ra tiếng kêu kỳ lạ mà cho đến nay tôi vẫn không thể mô tả chính xác như thế nào. Tôi nghĩ rằng nó có vẻ giống như một sự kết hợp giữa tiếng mụ phù thủy quỷ quyệt rên khi bị “Wizard of Oz” chế nước, và tiếng kêu của một con lợn rừng bị thổ dân người lùn Phi Châu săn giết mà tôi đã xem trên chương trình truyền hình đặc biệt của National Geographic.

Nó bắt đầu tung vó nhảy bổng cà tưng vừa chạy lung tung và lăn trên mặt đất, đồng thời phun chất nhờn của nó khắp mọi hướng. Tôi chạy khỏi chuồng ra ngoài cánh đồng cỏ với Đực đuổi theo phía sau! Tôi chỉ kịp đóng cái cổng rào vài giây trước khi Đực tông sừng vào, sau đó nó tiếp tục húc sừng vào bất cứ vật gì trong tầm nhìn của nó, cứ như vậy trong suốt ba mươi phút hoặc lâu hơn. Đực chỉ ngừng khi nó đã phun ra đủ mùi dê để tự nhận ra mùi này mới chính là mùi của mình. Sau cái màn đó, vợ tôi đồng ý rằng đã đến lúc phải tống khứ “món quà” đó đi; sự chào đón dành cho nó nơi trang trại của chúng tôi đã mòn nhẵn cạn kiệt hết cả rồi.

Trong thời gian đó, con chó cái thuộc loại chó chăn cừu có tên gọi theo tiếng Anh là Border Collie của chúng tôi đẻ ra một lứa chó con đầu tiên. Tôi đăng một mẫu quảng cáo trên tờ báo địa phương và một phụ nữ từ thành phố Kitchener đã gọi và hẹn muốn tới xem. Đến khi biết ra bà ta là một bác sĩ thú y chuyên loại thú nhỏ, tôi mới nói với bà ấy về nỗ lực của chúng tôi muốn cho Đẹp sinh con. Bà đề nghị để bà khám xem chúng tôi phải đợi bao lâu nữa cho đến khi Đẹp sinh con.

Thế là chúng tôi tạm dẹp đám chó con sang một bên và đi trở lại nhà chuồng. Tôi phải thừa nhận rằng tôi cảm thấy rất tự hào về sự gìn giữ ngăn nắp của nông trại khi chúng tôi vừa đi vừa nói chuyện, được một bác sĩ thú y từ thành phố ngỏ lời khen ngợi nói rằng bà thích những gì bà nhìn thấy. Điều đó bảo đảm với tôi rằng chúng tôi đã quyết định đúng khi mua trang trại này. Có lẽ một số bạn đọc cũng có liên quan đến quyết định tương tự khi còn trẻ và phải chọn lựa một quyết định lớn, chẳng hạn như cưới vợ khác chủng tộc, dời nơi sinh sống, mua một trang trại, hoặc một chiếc xe hơi mới, bạn muốn chắc chắn rằng bạn đang quyết định đúng đắn.

Nếu ba vợ tôi còn sống thì tôi sẽ hỏi ý kiến của ông về những việc quan trọng cho chắc ăn, nhưng ông chết hai năm nay rồi vì bịnh tim. Không có ông, tôi được một bác sĩ thú y khen trang trại đầu tiên của tôi, tôi cũng vui sướng lắm. Đang còn lâng lâng trong niềm vui sướng về thành đạt của mình, bỗng tôi nghe bà bác sĩ thú y vừa nói cái gì đó, tôi xin bà lặp lại cho. Bà nói: “Con dê này không phải là một con dê cái, mà là một con dê đã thiến.”

Đột nhiên tôi nghe quặn thắt trong lòng. Tôi đáp lại câu tuyên bố của bà bằng cái nhìn trống rỗng trong khi tâm trí tôi quay ngược nghĩ về lần tôi đã uống bia hơi say và đã tiếp tay giúp cho Đực dê xồm cưỡng hiếp Đẹp. Lúc đó tôi thấy mình đứng là một thằng đần. Cho đến ngày nay, tôi tự hứa sẽ không bao giờ vừa uống bia vừa chăm sóc gia súc nữa.

Bà bác sĩ thú y ra về, không một lần quay lại và cũng chẳng còn quan tâm đến đàn chó con của tôi. Thậm chí cuối cùng chúng tôi cũng phải mang Đẹp đi cho chủ khác vì nàng/chàng/nó dê ấy không bao giờ trở lại bình thường như trước nữa. Trước khi tôi mang Đực -con dê xồm quái quỉ- về trang trại, Đẹp là một con dê rất hiền lành ngoan ngoãn, luôn chạy tới mừng chào đón chúng tôi khi chúng tôi mang cho nó một khúc cà rốt hay miếng táo. Và, mặc dù người ta có thể nghĩ rằng một khi con dê đực dâm dục đã vắng bóng, mối đe dọa không còn nữa, Đẹp sẽ trở lại bình thường như trước. Nhưng không. Dường như Đẹp vẫn còn bị kinh nghiệm đáng ghê tởm một lần ám ảnh mãi mãi.

Giờ đây khi tôi bước vào cánh đồng cỏ, thoạt đầu nó cũng chạy đến tôi như mọi khi, nhưng rồi nó khum đầu xuống và muốn cụng sừng vào người tôi. Tôi đoán con dê đã mang theo một mối hận vì sự đồng lõa của tôi với con dê xồm háo dâm, mặc dù lúc đó tôi đâu có biết Đẹp là một con dê trung tính và tôi chỉ có ý tốt muốn giúp cho chúng giao phối mà thôi.

Sau đó không lâu, tôi mang Đẹp đi cho người khác vì tôi không thể chịu đựng nổi sự dày vò ân hận và mặc cảm tội lỗi của tôi mỗi khi nhìn thấy nó nữa.

Phan Hạnh
(phóng tác theo một câu chuyện thật).

Con dê trong anh ngữ, Phan Hạnh

cdtan2

Năm ngoái con ngựa Giáp Ngọ, người viết tìm thấy khá nhiều tài liệu liên quan đến “horse” để tham khảo, năm kế tiếp sau con ngựa là con dê, muốn tìm chữ “goat” coi bộ hơi hiếm, thôi thì có bao nhiêu xài bấy nhiêu vậy bạn nhá.

CDTAN_-_H.1

Goat mà không phải dê.
Khi bạn dùng cellphone “text” hỏi ai “How are you”, có bao giờ bạn nghe người đó trả lời “I feel goat” chưa? Người đó dùng một chữ viết gộp lại (acronym) với bạn đấy. Trong trường hợp này “goat” là “g.o.a.t.”, gộp tắt của 4 chữ “greatest of all time”, đại khái có nghĩa là “khỏe chưa từng thấy” chớ không phải “tôi cảm thấy dê” (Hả? Cái gì?). Hóa ra nó chẳng dính líu gì đến con dê cả. Chữ viết gộp G.O.A.T trở nên phổ thông kể từ khi ca sĩ hát nhạc rap nổi tiếng nhất tại Hoa Kỳ có nghệ danh Eminem hay tục danh Slim Shady (tên thật Marshall Bruce Mathers III) dùng trong một bài hát của anh có cùng tên với những câu mở đầu là:

I’m a goat
and for those of y’all who don’t know what a goat is
it means the greatest of all time
and I consider myself one of those
so thank you very much, here it goes!

(khỏi cần dịch bạn cũng biết nó có nghĩa gì rồi, phải không ạ?)

Các album nhạc rap của Eminem là The Slim Shady LP, The Marshall Mathers LP và The Eminem Show đều là những thành công vang dội và đã mang lại cho Eminem 9 giải Grammy. Năm 2002, Eminem trở thành rapper đầu tiên đoạt giải Oscar cho bộ phim anh tham gia đóng vai chính với bài hát Lose Yourself. Sau khi tạm rời xa sân khấu vào cuối đợt tour năm 2005, Eminem đã cho ra album thứ 5 của mình là Relapse vào ngày 19 tháng Năm năm 2009, đánh dấu bước đầu trong sự trở lại của anh. Tính đến đầu 2011, Eminem đã bán được gần 90 triệu album khắp thế giới, và hơn 41 triệu album tính riêng tại Hoa Kỳ, trở thành rapper có số lượng album bán chạy nhất trong lịch sử. Eminem được các độc giả của tạp chí Vibe bình chọn là “the best rapper alive”. Tính đến cuối năm 2011, Eminem đã giành được 13 giải Grammy trong số 38 đề cử.

CDTAN_-_H.2

Cỏ râu dê.
Ngắm tấm hình này, bạn có thấy loại hoa xinh đẹp không. Hoa từng chùm trắng muốt nở bung có những sợi tua như lông măng. Đó là hoa dại mà người Việt mình gọi là cỏ râu dê, một thứ bụi cây thảo mộc giàu dược tính. Thật tội nghiệp, hoa đẹp thế mà bị mang tên xấu. Tên khoa học là Filipendula-ulmaria và các tên tiếng Anh dễ thương như meadowsweet, Queen of the Meadow, Pride of the Meadow, Meadow-Wort, Meadow Queen, Lady of the Meadow, Dollof, Meadsweet, và Bridewort. Nó có mùi thơm ngọt ngào nồng nàn làm sảng khoái tinh thần được mọi người ưa chuộng, kể cả nữ hoàng Elizabeth Đệ Nhất. Hoa cỏ râu dê phơi khô được dùng làm chất xông hương (potpourri) để trong nhà thờ, phòng cô dâu… và được sử dụng như một loại hương liệu trong thực phẩm. Trong y học truyền thống Âu châu, cỏ râu dê được dùng để điều trị bệnh nhức đầu, viêm khớp, bệnh gút, nhiễm trùng dạ dày, hen suyễn và nóng sốt.

CDTAN_-_H.3

CDTAN_-_H.4

Horny goat weed.
Horny goat weed, Cỏ sừng dê là một loại thảo dược có tên khoa học là Epimedium, với lá được dùng làm thuốc. Có tới 63 loài cỏ sừng dê được gọi bằng cái tên kỳ cục là “dâm dương hoắc” (yin yang huo) trong y học Trung Quốc. Nó còn có các tên Anh ngữ khác là barrenwort, bishop’s hat, fairy wings, rowdy lamb herb, randy beef grass.

Chi Dâm dương hoắc là một chi thực vật thuộc Họ hoàng mộc. Chi này có khoảng 63 loài, phần lớn đều là đặc hữu của miền nam Trung Hoa, với một số loài phân bố xa tận châu Âu. Chi này có một số loài dâm dương hoắc có tính chất kích thích tình dục và được sử dụng làm thuốc. Cây này có nhiều loài khác nhau đều được dùng làm thuốc. Người ta dùng kéo cắt hết gai chung quanh biên lá, cắt nhỏ như sợi tơ to, rây sạch mảnh vụn rồi dùng. Người ta cũng dùng rễ và lá, cắt hết gai chung quanh rồi dùng mỡ dê, đun cho chảy ra, gạn sạch cặn, cho Dâm dương hoắc vào, sao qua cho mỡ hút hết vào lá, lấy ra ngay, để nguội là được. Hoặc rửa sạch lá, xắt nhỏ, phơi khô, sao qua, nếu tẩm rượu trước khi sao qua càng tốt.

Horny goat weed được sử dụng để chữa trị đau khớp, viêm xương khớp, mệt mỏi tinh thần và thể chất, mất trí nhớ, huyết áp cao, bệnh tim, viêm phế quản, gan bệnh, HIV / AIDS, bại liệt, chứng rối loạn máu gọi là giảm bạch cầu mãn tính, nhiễm vi khuẩn, loãng xương, và được dùng như một loại thuốc bổ. Cỏ sừng dê cũng được dùng cho các trục trặc hoạt động tình dục bao gồm cả rối loạn cương dương (ED) và xuất tinh ngoài ý muốn. Nó cũng được sử dụng để khơi dậy ham muốn tình dục.

CDTAN_-_H.5

Goatee (râu dê).
Người Việt mình hay bảo “nam tu nữ nhũ” với ý nói râu tiêu biểu cho phái nam và “núi đôi” tiêu biểu cho phái nữ. Nhưng đối với loài dê thì dê cái, dê đực gì cũng đều có râu cả.

Râu cũng có nhiều thứ râu, cũng phải được chăm sóc o bế cắt tỉa gọn ghẽ mới đẹp. Râu để mọc bừa bãi trông bê bối không hấp dẫn tí nào, nhất là râu dê luôn dính liền với ý nghĩa không tốt. Nam diễn viên Brad Pitt 46 tuổi bắt đầu “nuôi” râu từ tháng 9 năm 2013 tới nay bị khách hâm mộ chê xấu, nhưng chàng có lý do chính đáng: chuẩn bị đóng phim mới trong vai đại tá Percy Harrison Fawcett, nhà thám hiểm người Anh đã mất tích ở Amazon vào năm 1925 trong một chuyến đi tìm kiếm một nền văn minh cổ đại.

CDTAN_-_H.6

Scapegoat: Dê tế thần
Dê tế thần theo nghĩa đen dĩ nhiên là một con dê bị dùng làm lễ vật tế thần. Thần thoại Hy lạp, La mã ghi lại Zeus- Jupiter chúa tể các vị thần, lúc sinh ra bú sữa dê pha với mật ong. Khi tế thần người ta phải dâng dê bò “barbecue” nguyên con, chắc là sau đó mọi người sẽ đánh chén. Vào thời cổ La Mã, trong lễ hội Lupercalia cử hành vào ngày 15 tháng Giêng đầu năm, các thầy tế dâng lên thần linh một con dê và một con chó để cầu cho mưa thuận gió hòa và mọi người được sạch tội. Da dê sau đó được chia ra từng mảnh nhỏ để các chàng trai mang trong mình như lá bùa giúp mùa màng tươi tốt. Phụ nữ La Mã cũng tìm đủ cách để chạm được tay vào miếng da dê tế thần vì họ tin tưởng rằng làm như vậy sẽ sinh nở dễ dàng hơn. Vì vậy, sau hội Lupercania, nhiều đôi trai gái nên duyên nhờ miếng da dê.

Trong Thiên Chúa Giáo, hình ảnh con chiên, con dê rất gần gũi với người Do Thái từ mấy ngàn năm nay. Đức chúa Giêsu chào đời trong máng cỏ tại một hang có nhiều dê, chiên, lừa… thở hơi ấm. Ngoài ra, hình ảnh con chiên, con dê hy sinh, nhận lãnh làm của đền tội cho dân Do Thái không một lời than van thực ra là hình ảnh của chúa Giêsu gánh nhận trên vai mọi tội lỗi của nhân loại, như lời tiên tri Isaia đã nói trước 700 năm: “Người đã gánh mọi tội ác, mọi yếu đuối trên mình”. Cũng chính vì sự so sánh này mà hàng ngày các giáo dân thường cầu nguyện “Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, xin thương xót chúng tôi…”

Trong nghi thức tôn giáo Do Thái cổ xưa, vào Ngày Chuộc Tội (Day of Atonement, Yom Kippur), vị tư tế sẽ sát tế “con dê cho Chúa” làm lễ tạ tội cho toàn dân (con dê tạ tội). Sau một vài nghi thức thánh hiến trên bàn thờ, xác con dê tế hiến được đem ra ngoài trại xa mà đốt đi. Kế đến, người ta dẫn con dê thứ nhì tế hiến cho quỉ Azazel tới. Vị tư tế đặt hai tay lên đầu con dê này và “bàn giao” tất cả tội lỗi của toàn dân cho nó, dĩ nhiên là oan, nên người Việt mình còn gọi con dê tế thần là “oan dương”. Xong lễ, con dê này bị dắt vào sa mạc bỏ lạc lõng đói khát, số phận của con dê gánh tội coi như đã được định đoạt.

CDTAN_-_H.7

Scapegoat, Dê tế thần theo nghĩa bóng.
Danh từ “scapegoating” dùng để chỉ sự đổ tội cho người khác thay vì chấp nhận những hậu quả do hành động của chính mình. Người bị chọn làm vật tế thần, “scapegoat”, thường là một người hoặc một nhóm người thấp cổ bé miệng, dễ ăn hiếp và khinh miệt hơn. Hitler đổ thừa bác sĩ Eduard Bloch gốc Do Thái đã chữa trị dở khiến cho mẹ của Hitler là Klara chết. Từ ác cảm cá nhân, Hitler đổ lỗi dân Do Thái là một trong những nguyên nhân làm Đức thua trận năm 1918. Và Hitler đã giết 6 triệu người Do Thái trong Thế Chiến Thứ Hai như là những con dê tế thần. Dê tế thần có thể trong tất cả mọi giới: chính trị, tôn giáo, nghệ thuật, thể thao. Adam đổ lỗi Eve cám dỗ; Eve đổ lỗi cho con rắn. Stalin đổ lỗi Trotsky. Trả lời phỏng vấn của đài BBC cuối năm 2013, nhà văn Vũ Thư Hiên cho rằng ông và ông Nguyễn Kiến Giang -nhà lý luận về chủ nghĩa Marx, cựu đảng viên lão thành mới qua đời- cùng nhiều người khác bị bắt và bị bỏ tù trong vụ án “Xét lại chống Đảng” trước đây chỉ là những con dê tế thần của một âm mưu trong nội bộ Đảng Cộng sản khi đó, mà theo ông là để hạ uy tín của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

“Scapegoat” còn là nạn nhân bị tập thể hoặc cấp trên đổ lỗi để gánh chịu trừng phạt. Vì muốn thoát hiểm an toàn, phủi tay tránh né trách nhiệm, biện minh cho hành động sai trái, tập thể hoặc cấp trên đó thường chọn người dưới quyền hay yếu thế làm vật hy sinh chịu tội thế cho mình. Đại úy Nguyễn Văn Nhung, sĩ quan tùy viên của trung tướng Dương Văn Minh, vâng lệnh nhóm đảo chánh bắn chết tổng thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu ngày 1-11-1963 để rồi sau đó bị làm dê tế thần, bị quy tội, bị tra tấn chết nhưng phao gian là chết do tự tử. Ngày nay trong nước xảy ra không ít những trường hợp dê tế thần tương tự khi công an nặng tay khiến người tình nghi tử vong trong lúc thẩm vấn. Nguyễn Tấn Dũng đổ lỗi cho Phạm Thanh Bình đã làm tập đoàn Vinashin sập tiệm; Bình bị bắt giam, bị xử án 20 năm tù nên đã thắt cổ tự tử.

Giáo sư Ron Rolheiser người Canada, tác giả của hàng chục quyển sách thần học và triết học cho rằng Scapegoat còn có thể hiểu một cách bình thường hơn trong giao tiếp hàng ngày; đó là tạo đồng minh bằng cách nói xấu một người thứ ba. Hãy tưởng tượng trong một nhóm bạn, A và B tuy không thân thiện nhau lắm nhưng đều cùng không thích X. Thế là A và B kết thân để tạo một liên minh loại bỏ X ra khỏi vòng bạn bè. Trong trường hợp này, X trở thành con dê tế thần. Dê tế thần thường là những người vắng mặt, không được ưa: một ông xếp khó chịu, một bạn học khó tính, một đồng nghiệp khó ưa, v.v. Đó là đặc tính của con dê bị tế thần. Chúng ta xây dựng mối giao thiệp với nhau bằng cách đẩy căng thẳng giữa chúng ta qua người khác. Khi loại trừ người đó khỏi nhóm mình, chúng ta tạo ra được mối quan hệ mới, một liên minh mới, nhưng như thế, sự hòa hợp giữa chúng ta dựa vào điều mà chúng ta cùng nhau chống lại hơn là dựa vào những gì chúng ta hướng đến.

Tất cả mọi nhóm, cho đến khi đạt được một mức độ trưởng thành nhất định, đều làm như thế cả. Và khi đối diện với căng thẳng trong đời sống riêng của mình, chúng ta cũng làm như thế. Cách xử thế này hoạt động như sau: Một buổi sáng, chúng ta thức dậy và, vì vô số lý do, chúng ta cảm thấy rối bời, nặng trĩu do một đống tạp nhạp chán nản, lo lắng, giận dữ. Vậy chúng ta làm gì đây? Chúng ta tìm một ai đó để đổ lỗi. Luôn luôn chúng ta nhanh chóng chọn được người (trong gia đình, nơi làm việc, một chính trị gia, hay một giới chức tôn giáo) để trút căng thẳng vào người đó. Một người mà chúng ta xem là khó tính, ngu đần, sai lầm về chính trị, hủ bại về đạo đức, hay xấu xa về mặt tôn giáo, người đó sẽ sớm phải lãnh gánh nặng căng thẳng và phẫn uất của chúng ta.

Hơn nữa, chúng ta không chỉ đẩy căng thẳng về phía một ai đó, mà chúng ta còn luôn “sát tế” nỗi căm phẫn mà chúng ta đang cảm nhận, chúng ta sẽ đẩy căng thẳng và giận dữ của mình về phía người đó không chỉ vì người đó khác chúng ta hay chúng ta xem họ là khó tính, ngu đần, biếng nhác, nhưng chúng ta làm thế, đặc biệt là vì chúng ta cảm thấy mình vượt trội họ về mặt đạo đức, chúng ta đúng, còn họ sai, chúng ta tốt còn họ thì xấu. Như thế phẫn uất mà chúng ta nhắm vào người đó được xem là một phẫn uất thánh thiện và cần thiết vì danh Chúa, vì sự thật và sự thiện, cũng như tất cả những việc hành hình bằng đóng đinh, treo cổ, và rút phép thông công vậy.

CDTAN_-_H.8

Randy Old Goat
Randy Old Goat có nghĩa là dê cụ, ông già dê, thằng cha dê xồm… Một ông già dê không nhất thiết phải có râu dê, nhưng có thể hay cười be he theo kiễu kép hài Văn Chung hay Thanh Việt. Một người để râu dê không nhất thiết có tánh dê xồm. Đại tướng Nguyễn Khánh được biết suốt đời chỉ có một vợ và 6 người con. Lại nữa, không phải ai tuổi Mùi cũng có tính dê hay máu dê. Những người tuổi con vật khác khi dê là vẫn cứ dê như thường.

Chẳng biết do đâu mà tiếng kêu be he của con dê lại bị liên kết với tiếng cười của mấy ông già dê cứ thấy đàn bà con gái là để lộ thái độ ve vãn và cử chỉ hành vi sàm sỡ. Câu nói “Let go you randy old goat!” có nghĩa như “Buông tao ra, đồ dê già mắc dịch!” Trong văn hóa Việt nam, hình ảnh con dê thường bị nhìn dưới một khía cạnh châm biếm cười chê. Dê đực có khả năng truyền giống rất mạnh là lẽ tự nhiên chứ nó có muốn như vậy đâu. Người ta ví những ông có máu 35 có tánh hay ve vãn đàn bà con gái với dê là oan cho nó. “Bươm bướm mà đậu cành bông. Ðã dê con chị, lại bồng con em” để chỉ các tay dê thứ dữ đó. Tính dê xồm dĩ nhiên là xấu rồi, bị người đời coi khinh vì không theo khuôn phép thuần phong mỹ tục. Bởi vậy người ta mắng dê xồm bằng 2 câu thơ là “Phượng hoàng đậu nhánh sa kê, Ông thần vật mấy thằng dê cho rồi!” Cho dù ông thần làm việc ô-vơ-thai đốp-bồ-síp (overtime double shift) đi chăng nữa cũng không thể vật hết người dê. Thế là dê xồm vẫn đi đầy đường, từ trong sở làm ra tới quán bia ôm, kể cả trong chòm xóm. Thiên hạ tức quá rủa tiếp “Dê xồm ăn lá khổ qua. Ăn nhiều sâu rọm, chết cha dê xồm!”

CDTAN_-_H.9

– Cô gái xinh đẹp ơi, em làm việc ở bệnh viện này à?
– Dạ, đúng rồi anh!
– Thế công việc chính của em là gì?
– Dạ, em tắm rửa rồi thay quần áo cho bệnh nhân ạ.
– Nếu anh vào nằm viện thì em cũng làm cho anh như thế chứ?
– Dạ, lúc nào em cũng sẵn sàng ạ.
– Vậy, làm sao anh tìm gặp được em khi vào viện nhỉ?
– Anh cứ hỏi thăm “Cô Mai nhà xác” là ai cũng biết và chỉ cho anh ạ!
– Hả…!?!?

Get someone’s goat: đây là thành ngữ về dê thường dùng nhất với nghĩa bóng là làm cho ai bực mình, khó chịu, nổi sùng. Ví dụ:
CDTAN_-_H.10
– “I’m sorry. I didn’t mean to get your goat.” (Tôi xin lỗi. Tôi không cố ý làm cho bạn bực mình).
– “It really gets my goat when inconsiderate people litter.” (Tôi thật khó chịu khi thấy người bất lịch sự xả rác).
– “His wife’s constant whining gets his goat.” (Sự lải nhải càu nhàu của vợ hắn làm cho hắn bực mình).
Chữ “goat” dùng trong thành ngữ này là một ẩn dụ chỉ trạng thái an bình. Khi goat đang với ta, ta an hòa và ổn định. Khi goat của ta bị lấy đi, ta nổi sùng cáu gắt. “Get someone’s goat” thường không do một hành vi vô tình mà là một sự cố ý chủ mưu chọc giận.

Ví dụ:
Tí: “Mầy mới chửi tao hả Tèo?”
Tèo: “Mầy nói gì kỳ vậy? Tao chửi mầy hồi nào?
Tí: “Mầy mới chửi tao tức thì. Tao nghe rõ ràng mà còn chối!”
Tèo: “Trời đất! Tự dưng sao mầy dựng chuyện kỳ cục vậy?”
Tí: “Bây giờ mầy nói tao nói láo nữa hả?”
Tèo chịu hết nổi nên tức quá bỏ đi và lẩm bẩm. Tí nói vói theo:
“Đó thấy chưa! Mầy chửi tao rõ ràng!”

“Tí has got Tèo’s goat.” Tí đã đoạt trạng thái an bình của Tèo, đã làm cho Tèo bực dọc khó chịu. Thế là có câu khuyên dành cho Tèo: “Don’t let him bother you, he’s just trying to get your goat.” (Đừng thèm để ý tới nó. Nó đang muốn chọc cho mầy nổi sùng đó).

Nguồn gốc của thành ngữ này vẫn còn là đề tài gây tranh cãi. Có người bảo nó bắt nguồn từ giới nuôi ngựa đua. Ngựa vốn là con vật dễ bị giao động, nổi chứng, trong khi con dê là con vật được biết rất trầm tĩnh nhu hòa. Vì vậy, trước ngày ngựa đua, người ta bỏ một con dê vào chuồng con ngựa sắp đua với mục đích sự hiện diện của con dê sẽ giúp làm dịu tính khí của con ngựa. Con ngựa trở nên gắn bó với con dê, một đứa bạn đồng hành hiền hậu và chịu đựng.

Thế là đối thủ trong cuộc đua tung đòn chơi bẩn, lén tìm cách bắt con dê đó đi. Sự vắng mặt của con dê có thể làm cho con ngựa đó cáu tính trở lại và sẽ trở chứng trong cuộc đua. Do đó khi một người than “Someone has got my goat” thì người đó ví mình như con ngựa đã mất dê, và mất điểm tựa ảnh hưởng nhu hòa.

Cách giải thích thứ nhì cho thành ngữ “Get someone’s goat” là có sự phát âm nhầm lẫn giữa chữ “goad” và chữ “goat”. Có thể thành ngữ đó phát sinh từ “Get your goad” dùng từ lâu bên Anh. “Goad” là một cây roi dài nhọn dùng để lùa gia súc. Ngày nay người ta thay thế món dụng cụ “goad” bằng “prod”.

CDTAN_-_H.10Hình một cao-bồi dùng goad (gậy dài) để lùa bò

Một giả thuyết khác cho rằng “goat” là tiếng lóng của tù nhân dùng vào đầu thế kỷ 20 để chỉ cơn giận.

Thành ngữ “to take the goat” có thể do dịch từ chữ Pháp “prendre la chèvre” với nghĩa lấy mất nguồn lợi. Đối với những nông dân nghèo, con dê của họ bị ăn cắp mất thì coi như họ mất nguồn cung cấp lương thực sữa và thịt dê. Tuy nhiên đây cũng chỉ là sự phỏng đoán diễn dịch mà thôi.

Một số thành ngữ châm ngôn khác
Để ám chỉ một người có mùi hôi cơ thể, người ta dùng thành ngữ “He got a goat under his arms”(Hắn có nguyên một con dê dưới nách hắn), nhưng nó không thịnh hành cho lắm.

Put silk on a goat and it is still a goat: Dù có đắp lụa lên một con dê thì nó vẫn là dê.

It’s no use going to the goat’s house to look for wool: Đến nhà dê để tìm len cũng vô ích. Đến không đúng chỗ.

Don’t approach a goat from the front, a horse from the back, or a fool from any side: Đừng đến gần một con dê từ phía trước, một con ngựa từ phía sau, hoặc một kẻ ngốc từ bất kỳ phía nào. Các bạn biết tại sao rồi phải không. Con dê hay dùng sừng để húc; con ngựa hay dùng chân sau để đá; thằng ngốc thì chuyện gì nó cũng làm, chẳng biết đâu mà lường.

He who lets the goat be laid on his shoulders is soon after forced to carry the cow: Kẻ nào để yên cho người ta đặt một con dê lên vai thì sau đó thế nào cũng bị bắt cõng một con bò. Ý nghĩa câu này cũng tương tự như câu “Give him an inch and he will take a yard”, tương tự như câu “Được đàng chân, lân đàng đầu” của Việt Nam ta.

It doesn’t take a genius to spot a goat in a flock of sheep: Không cần phải là một thiên tài mới nhận ra một con dê trong một đàn cừu.

If you enter a goat stable, bleat; if you enter a water buffalo stable, bellow: Vào chuồng dê thì kêu be he; vào chuồng trâu thì kêu nghé ngọ. Nhập gia tùy tục, nhập giang tùy khúc.

Một số từ ngữ khác liên quan đến dê
Brush Goat: thuật ngữ dùng ở Mỹ để chỉ con dê đã nuôi trong nhiều năm ở mà không xác định thuộc giống loại nào. Những con dê này thường không cần được chăm sóc gì cả, chủ cứ thả rong chúng trong phạm vi nông trại cho chúng ăn dọn sạch bụi cỏ (brush).
Buck hay Billy: dê đực đã đủ trưởng thành về mặt sinh lý để giao phối và gây giống.
Buckling: dê đực còn trẻ chưa trưởng thành về mặt sinh lý để giao phối và gây giống.
Doe hay Nanny: dê cái đã đủ trưởng thành về mặt sinh lý để giao phối và gây giống.
Doeling: dê cái còn trẻ chưa đủ trưởng thành về mặt sinh lý để giao phối và gây giống.
Open: dê cái chưa mang thai.
Settled: dê cái đã mang thai.
Yearling: dê con từ một tới hai tuổi.
Kid: dê con dưới một tuổi.
Polled: dê không có sừng.
Chevon: Chevon là từ ngữ Pháp nghĩa là dê con, dùng để chỉ dê non còn bú hoặc mới vừa dứt sữa bị mang đi giết để lấy thịt.
Weaner hoặc Weanling: dê con dứt sữa.
Wether: dê đực đã thiến.

Để kết thúc bài viết lan man này, người viết cầu mong quý bạn đọc năm Ất Mùi 2015 sống hiền lành thảnh thơi vô tư lự như dê (chưa chắc), biết hòa thuận nhường nhịn không như dê (cũng chưa chắc). Nếu có muốn cụng sừng nhau thì cũng trong tinh thần thể thao giao hữu thôi nha. Mời quý bạn đọc bài thơ Hai con dê qua cầu.

Bắt qua sông một cây cầu rất hẹp
Có một lần hai dê nọ cùng qua
Ngược chiều nhau nên kẹt đứng giữa cầu
Một con bảo: “Mầy phải lùi lại đã”

Con kia đáp: “Tại sao kỳ vậy hả?
Tôi bước lên cầu trước kia mà?”
– “Nhưng tao mạnh hơn mầy! Hãy tránh ra!”
>- “Tôi không tránh! Anh làm gì tôi chứ?”

– “Vậy mầy hãy cụng sừng đọ sức
Xem thằng nào ngán sợ thằng nào!”
– “Khoan! Nếu đứng đây ta lại đánh nhau
Chắc sẽ rớt xuống sông hết cả.

Thôi thì tôi đề nghị như vầy nhá
Tôi nằm xuống cho anh bước qua.”
Nhường nhịn nhau một chút thôi mà
Nhưng nhờ vậy cả hai còn sống sót.
(phỏng dịch truyện răn đời “Two Goats”)

Phan Hạnh.

Đà Lạt, vàng phai kỷ niệm- Kim Thanh Nguyễn Kim Quý

DL vang phai ky niem

Đầu năm 1975, tôi đổi về trường Đại Học CTCT Đà Lạt, sau thời gian dài lặn lội hành quân gian khổ theo các đon vị Bộ Binh Vùng 2 Chiến Thuật. Và từ tháng 4 năm ấy, tôi được Nguyễn Hồng Giáp, người bạn học cũ từ thời Nha Trang, đang là Phó Khoa trưởng Văn Khoa Viện Đại Học mời đến dạy Pháp văn như một giáo sư thỉnh giảng (visiting professor). Trái với dự đoán của tôi, Đại tá Chỉ huy trưởng Nguyễn Quốc Quỳnh vui vẻ cho phép ngay, theo chủ trương “giao lưu văn hóa”, trao đổi giáo sư giữa hai trường, nghĩa là ông cũng mời các giáo sư VĐH qua dạy tại trường ĐH/CTCT, như Trần Long, khoa trưởng Chính Trị Kinh Doanh, Hoàng Cơ Long, Nguyễn Hồng Giáp, và cô Phương Thu, hiệu trưởng trường Bùi Thị Xuân.

Viện Đại Học Đà Lạt (1973-75)

Hồi ấy, Viện Đại Học Đà Lạt bắt đầu áp dụng chế độ tín chỉ (credit) như của Mỹ, theo đề nghị của các giáo sư du học Mỹ trở về, như ba ông Tam Long: Phó Bá Long, Trần Long (hiện ở Hillsboro), và Ngô Đình Long –điều mà Tiến sĩ Nguyễn Hồng Giáp, tốt nghiệp bên Tây, hoàn toàn đồng ý và cổ võ. Ví dụ, sinh viên các khoa (Sư phạm, Việt Hán, Anh văn, Khoa học, Chính Trị Kinh Doanh, v.v…), nếu chọn Pháp văn làm sinh ngữ chính hay phụ, đều phải đến học chung với nhau các giờ Pháp ngữ. Còn những sinh viên theo ban Văn Khoa Cử nhân Pháp thuần túy ngồi vào lớp riêng, khó hơn, chuyên môn hơn, giảng bằng tiếng Pháp do các giáo sư người Pháp, như linh mục Jean Maïs, hay Alain Bichet, bạn tôi, phụ trách.

Tôi được chỉ định –cùng với Nguyễn Hồng Giáp, Đậu Quang Luận, (và, nếu không muốn bị mang tiếng thấy người sang bắt quàng làm họ, tôi nhớ còn có cha Nguyễn Văn Nhơn, nay là Tổng Giám Mục Hà Nội)– dạy các lớp “học chung” như vậy, đóng đô thường trực tại giảng đường Spellman, từ trình độ năm thứ 2 đến năm thứ 3.

Với lớp cử nhân Pháp, Giáp đề nghị tôi dạy một credit bắt buộc về văn chương đối chiếu (littérature comparée) giữa Pháp và Việt. Tôi chọn đề tài: “Baudelaire et les poètes et écrivains Vietnamiens de l’avant-guerre” (Baudelaire và các thi văn sĩ tiền chiến Việt Nam). Quả vậy, trong văn chương Pháp, Baudelaire có ảnh hưởng lớn trên thế hệ thi văn sĩ lãng mạn Việt Nam, nhất là Xuân Diệu, hay Hàn Mặc Tử (ông này lên án Baudelaire đã thiếu đạo đức, khinh miệt gọi ông là “va” (cf Chơi giữa mùa trăng, y hệt Tòa án Pháp năm 1861 kết tội ông vì tập thơ Les Fleurs du Mal), nhiều hơn cả Lamartine, một thi sĩ tôi cho là ủy mị, than mây khóc gió nhất, mà học sinh và thi sĩ Việt Nam nào cũng biết.

Ví dụ về ảnh hưởng của Baudelaire: Những câu thơ như “Là thi sĩ nghĩa là ru với gió / Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”, Xuân Diệu lấy dịch gần nguyên con bài “Bénédiction” của ông thi sĩ Pháp. Hay bài “Huyền Diệu”, mở đầu với câu “Này lắng nghe em khúc nhạc thơm…” lấy ý từ bài “Correspondances” trong đó những màu sắc (couleurs), âm thanh (sons) và hương thơm (parfums) được kết hợp mật thiết với nhau. Vân vân… Bên cạnh Baudelaire, Xuân Diệu còn chịu ảnh hưởng nặng nề của Ronsard, thế kỷ Phục Hưng (XVI), và một chút của Lamartine, một chút của Verlaine (như bài Il pleure dans mon cœur, chẳng hạn, Xuân Diệu, trong “Yêu mến”, cũng viết: “mưa lơ phơ như dạ khóc âm thầm”) và qua các nhà thơ Pháp này, ảnh hưởng gián tiếp của thi sĩ Latin Horace (Carpe diem, Hãy hái ngày đi), trong bài “Giục giã”: Mau với chứ vội vàng lên với chứ / Em, em ơi tình non đã già rồi v.v…

Ngoài Xuân Diệu, trong “Hồn bướm mơ tiên”, đoạn tả cảnh lá rụng, Khái Hưng viết giống như, nếu không nói gần như phỏng dịch, nhà văn François Coppée trong một đoạn của Toute une jeunesse. Cũng như Thanh Tịnh bắt chước đoạn văn La rentrée của Anatole France trong “Ngày tựu trường”. Những bài thơ đạo của Hàn Mặc Tử phảng phất hơi hướng của Paul Claudel, một tín đồ Công giáo thuần thành, trong L’annonce faite à Marie và Le soulier de satin. Còn nhiều ví dụ khác nữa. Ấy là chưa kể Bích Khê với cố gắng đưa thơ tiền chiến Việt vào dòng thơ tượng trưng Pháp.

Tín chỉ này muốn dạy phải kéo dài ít nhất ba tháng, đâu ít ỏi gì, nên tôi phải bỏ nhiều thời gian, lục lọi trí nhớ và đọc lại kỹ những bài thơ, bài văn Pháp nào mà tôi nghi có dính líu tới các ông thi văn sĩ Việt Nam, và ngược lại. Thời đó chưa có Internet và Wikipedia, nên sự hiểu biết chỉ dựa trên kiến thức học từ trường ốc và sách vở. Xong, in ra thành tập, phát cho sinh viên. Bây giờ thì cả thầy lẫn trò đều mất nó. Tiếc quá! Nếu được trẻ hơn chừng ba bó, có lẽ tôi sẽ “tắt đèn làm lại”, vì thấy đề tài này khá hữu ích cho văn chương Việt Nam, không chỉ thời tiền chiến mà còn cả về sau này, với Nhóm Sáng Tạo hay những nhà văn chạy theo chủ nghĩa Hiện Sinh của Sartre, Camus, hay những nhà thơ chịu ảnh hưởng phong trào Siêu Thực Pháp, Bùi Giáng chẳng hạn…

Sinh viên của lớp chứng chỉ này có tám người, bảy cô và một cậu. Giờ này tôi chỉ nhớ hai người, một là em của bà chủ tiệm ăn Bắc Hương trong khu chợ Hòa Bình, tức em vợ của Trung úy Nguyễn Bảo Hưng, bạn tôi, thuộc trường ĐH/CTCT. Khoảng giữa năm 1988, tôi đã gặp lại cả gia đình anh bạn cũ ở ngoại ô Paris (Cergy-Pontoise). Cô sinh viên thùy mị, nhút nhát ngày đó giờ đã có chồng con, tay bồng tay bế. Người thứ hai có tên Hoàng Hôn Thắm, hồ sơ ghi “sinh tại Paris”. Tôi nhớ đến cô vì cái tên quá đặc biệt, khó quên và không lẫn với ai được. Sau này qua Mỹ đọc báo mới biết cô (đang ở Texas) là ái nữ của cố thi sĩ tài hoa Hoàng Anh Tuấn.

Chiếc Peugeot 203 bụi đời

Lúc ấy tôi đi làm bằng chiếc xe Peugeot 203 đen, cũ kỹ, sang số tay, thời Bảo Đại còn mặc tã, rất bụi theo hai nghĩa, mượn dài hạn của ba mẹ tôi, lái từ Nha Trang lên, không bao giờ được lau rửa trong ngoài, sách báo đầy ngập sàn xe.

Nói chung, xe chạy cũng OK, vừa phải. Chỉ có vài trục trặc lẻ tẻ, như tiếng máy nổ quá to, có lẽ ống pot bị nứt, không thua tiếng xe nhà binh GMC, khiến không có người đẹp nào muốn quá giang, vì mắc cỡ, nhưng khách bộ hành nghe từ xa đã phải vội né vô lề, đỡ gây tai nạn. Còn thêm cái thắng không được ăn lắm, muốn ngừng phải nhắp nhắp trước mười thước từ xa, không ai dám ngồi vào, nói chi mượn lái. Khá nguy hiểm trên những con dốc Đà Lạt. Lúc đầu tôi cũng ớn chứ, nhưng riết rồi quen. Không đem sửa vì lười và vì thợ bày vẽ đủ chuyện, chặt đẹp. Một anh bạn, nghe tôi cảnh cáo, ngờ tôi xấu bụng, một lần vẫn nằng nặc đòi mượn đi có việc. Mười phút sau, anh đem trả lại, mặt mày tái nhợt. Lại còn, lâu lâu máy nổi cơn ho khục khặc, phun khói mịt trời.

Một đêm sương mù, ham nói chuyện với một khách quá giang, Đại úy Phạm Văn Tải (hiện ở Portland), tôi quên nhắp nhắp thắng, suýt lao xuống hồ Xuân Hương. Lần khác, nhắp nhắp không kịp, tôi đã tông vào cửa xe Peugeot 403 trắng mới tinh, đang quẹo phải, của ông Trưởng ty Công Chánh Đà Lạt, tôi nhớ người Huế, dòng họ Tôn Thất, bị ông này bước xuống la lối ầm ĩ, vung tay vung chân, đòi xem và đòi rút bằng lái. Nhưng lúc ấy ông cũng vừa kịp thấy tôi (đi công tác về) mặc quân phục, đeo lon, mang súng Colt, mở cửa sấn tới, mặt hầm hầm vì bị chửi… oan, nên ông cũng ngán, dịu giọng, chỉ đòi “đại úy trả tiền gò lại cửa xe”, tốn hết một tháng lương nhà binh của tôi. Nhờ thế, sẵn dịp, tôi mới chịu sửa sơ sơ cái thắng xe. Vậy mà trước đó có người không biết bệnh trạng của xe vẫn “vô tư” ngồi vào, như Giám mục Đà Lạt Nguyễn Sơn Lâm, vài bà sơ người Pháp, hoặc các giáo sư trường CTCT.

Thiếu tá Lê Ân, Văn Hóa Vụ trưởng ĐH/CTCT

Vài sĩ quan Văn Hóa Vụ biết chuyện tông xe này, nhưng Th/T Ân, xếp trực tiếp của tôi, lại không. Chuẩn bị đi Sài Gòn mời các giáo sư cho mùa văn hoá, ông đã đề nghị với Đại tá Quỳnh cho ông và tôi đi xuống Sài Gòn bằng chiếc Peugeot không giống ai của tôi, và nhà trường đài thọ xăng. Đó là một trong vài lần hiếm hoi tôi rửa xe, nhưng vẫn ỷ y, hoặc lười biếng, hoặc tiếc tiền, không cho kiểm lại máy móc. Gần đến Phan Thiết, gió mát từ biển thổi vào, hai thầy trò đang ngon trớn, Thiếu tá Ân đang khen nức nở “xe chạy êm quá”, thì bỗng nó bị panne ngang xương, xịt khói mờ mịt, giật liên hồi mấy cái, giống như con heo bị thọc huyết, rồi chết máy. Dù ốm yếu, ông thiếu tá cũng phải xuống đường phụ tôi đẩy xe, mồ hôi nhễ nhại, thở phì phì, luôn miệng than: Cháng gướm! Cháng gướm (Chán gớm)! Hóa ra bộ phận bơm xăng bị bể. Vào một tiệm sửa xe bên đường, nhờ thay, rồi xe chạy phom phom trở lại, đủ sức đổ bến Sài Gòn và an toàn đến nhà các giáo sư. Như GS Nguyễn Mạnh Hùng, lúc ấy đang ở với vợ và bà mẹ vợ, Bắc kỳ chính cống, nghe nói bây giờ trở cờ, sống tại Virginia. Như GS Nguyễn Ngọc Huy, người Nam, rất niềm nở, lịch sự, cười lộ cái răng vàng sáng chói và bàn tay bắt mềm nhũn. Như GS Nguyễn Thị Huệ, đon đả, bộc trực. Còn GS Phạm Thị Tự đã nhận lời qua thư từ với Đại tá Quỳnh, không cần đến gặp. Trở về trường, Thiếu tá Ân đi máy bay cho chắc ăn. Sau chuyến đó, ông chỉ dám ngồi vào xe của tôi chỉ một lần nữa, khi chiếc jeep của ông bị hư giữa đường.

Rất ít người còn nhớ, nói chi nhắc, đến vị Văn Hoá Vụ trưởng cuối cùng của trường ĐH/CTCT. Có lẽ vì bản tính ông kín đáo, khiêm cung, có lẽ vì trong chức vụ VHV trưởng ông ít xuất hiện, không tiếp xúc nhiều với anh em SVSQ, khác với chúng tôi, những sĩ quan phụ khảo. Ông về Đại học CTCT, từ trường Võ Bị (trưởng phòng Tâm lý chiến), cùng một thời gian với tôi, tháng giêng 1973, nghĩa là từ khoá 4. Ông có bằng Cử nhân Việt-Hán. Rất hiền lành, ít nói, vóc dáng ốm nhỏ, mặt luôn tái xanh, và sau này tôi được ông cho biết ông bị bệnh bao tử kinh niên. Ông sống khép kín cùng với gia đình, một vợ ba con nhỏ, tại bến xe Chi Lăng, gần căn nhà thuê của tôi. Vợ ông người Huế, cháu ruột của Linh mục nổi tiếng Phan Phát Huồn, dòng Chúa Cứu Thế. Còn ông nói tiếng Quảng, lai Huế, em họ của Linh mục Lê Thiên Ân, tu viện trưởng tu viện dòng Chúa Cứu Thế Nha Trang. Khi Khối Khóa sinh và Văn hóa vụ dời về trường Chỉ Huy Tham Mưu cũ, chúng tôi chỉ cần thả bộ bốn phút là đến nơi làm việc. Rất tiện lợi.

Văn hóa vụ lúc ấy có bốn khoa và bốn trưởng khoa. Đại úy Võ Lê Tuấn, cử nhân Luật, người hiền hòa, ăn nói nhỏ nhẹ, lịch sự, là trưởng khoa Chính Trị Học kiêm phụ khảo môn Nhân chủng học (GS Nghiêm Thẩm), Trung úy Trần Kiêm Nguyện, cử nhân Văn khoa, trưởng khoa Hành Chánh Công Quyền kiêm phụ khảo môn Bang giao quốc tế (GS Nguyễn Thị Huệ), Trung úy Phạm Hữu Tạo, du học Mỹ về, trưởng khoa Sinh ngữ, và tôi, trưởng khoa Nhân Văn Xã Hội kiêm phụ khảo môn Xã hội học (GS Phạm Thị Tự). Ngoài ra, mỗi lần Bà Tự dạy đều có Thiếu tướng Bùi Đình Đạm, Giám đốc Nha động viên, mặc veste dân sự, đến hội trường nghe, vì lúc đó ông đang soạn Cao Học Xã Hội Học dưới sự bảo trợ của bà. Những lần ấy, tôi ngồi cạnh ông, cuối phòng, và thì thầm nói chuyện. Mỗi trưởng khoa có văn phòng riêng trong dãy building, được dùng làm nơi thi vấn đáp, kế cận đại giảng đường. Sau này, khi hai GS Nghiêm Thẩm và Phạm Thị Tự bận không lên Đà Lạt dạy được nữa, vào năm cuối của khóa 4, Đại tá Chỉ huy trưởng bổ nhiệm Đ/U Tuấn dạy môn Nhân chủng học và tôi dạy môn Xã hội học. Chúng tôi “lên lớp” được hai lần (cuối khóa 4, đầu khóa 5) thì tan hàng, “di tản chiến đấu” xuống Sài Gòn. Tôi không chắc là các anh em SVSQ có lời bình phẩm nào, khen hay chê, về cách dạy của hai chúng tôi, vì đa số, đi bãi về, mệt quá, đã ngủ trong lớp, có anh mê man không biết tôi xuống bục đứng bên cạnh lúc nào, có anh ngáy “vô tư”, có anh còn mớ nói lảm nhảm, có anh nghiến răng ken két. Tôi thông cảm hết. Có một điều duy nhất mà tôi không bao giờ thông cảm là “quay phim” trong giờ thi.

Trở lại Th/Tá Lê Ân. Ông cho các sĩ quan VHV thì giờ rộng rãi để soạn bài vở, tài liệu, không bắt buộc có mặt ở đơn vị 100%, trừ khi trực trại, ứng chiến, và họp tham mưu có ĐT/CHT chủ tọa. Còn ông tình nguyện lãnh phần “trực văn phòng” mỗi ngày, mà ông và chúng tôi gọi đùa là “giữ chùa”, thay cho tất cả. Cần sĩ quan nào, ông cho người đi lùng gọi, thường thường tại gia. Vài lần, bận việc, không lên văn phòng được, ông cho cô con gái lớn, 14 tuổi, tên Bích Vân, đến tìm tôi tận nhà, gõ cửa, nói bằng giọng Huế đặc: “Ba chạu nọi, nhờ chụ lên giự chùa giùm cho ba”. Nghĩa là, vì tôi là láng giềng gần gũi, nên luôn luôn được ông ưu tiên “chiếu cố”, hơn ba ông trưởng khoa kia. Suốt hai năm làm việc dưới quyền ông, tôi chưa bao giờ thấy ông giận dữ, lớn tiếng, hoặc rầy la bất cứ ai. Cho nên chúng tôi rất thương ông. Có chuyện gì không vừa ý, ông chỉ lắc lắc đầu, buông nhẹ một lời than độc nhất, rất trademark:
– Cháng gướm!

Giáo sư Phạm Thị Tự

Cũng với chiếc xe ấy, trong mùa văn hoá đầu tiên của tôi, vì tài xế xe jeep dân sự của trường bận đón đưa ai, hình như bà Trung tướng Trần Văn Trung, Th/tá Lê Ân nhờ tôi một mình, mặc civil, đến phi trường Liên Khương đón giáo sư Xã Hội Học Phạm Thị Tự –mà cả ông và tôi chưa biết mặt. Máy bay đáp, tôi chờ mãi, vẫn không thấy bà đâu, vì trong đầu tôi mường tượng bà phải như một “mệnh phụ phu nhân”, ăn mặc sang trọng cho đúng với tước vị giáo sư du học ở Mỹ về v.v… Cuối cùng, không còn ai, ngoài một bà cao lớn mặc áo dài rất bình dị, đi guốc gỗ thường, đứng đó đợi đã lâu, bước tới hỏi với giọng Bắc thanh tao, trong vắt: “Có phải ông thuộc trường Đại học CTCT đi đón ai?”. Tôi trả lời: “Vâng, tôi là Trưởng khoa Xã Hội Học, có nhiệm vụ đón giáo sư Phạm Thị Tự, nhưng không thấy bà đâu cả”. Bà mừng rỡ, nói lớn: “Tôi là giáo sư Tự đây mà!”. Cũng may, xe chạy về thành phố bình an vô sự, sau mấy lần phải nhắp nhắp thắng mỏi chân.

Sáng nay, 15/3/2014, khi đang viết bài này, tôi nhận được email của anh em cựu SVSQ khóa 4 trường Đại Học CTCT, báo tin bà giáo sư Maria Phạm Thị Tự đã từ trần 9 giờ sáng hôm qua, 14/3, tại Sài Gòn, thọ 91 tuổi, làm tôi không khỏi bàng hoàng, nhớ những buổi dạy rất linh động của bà và nhất là lần đưa xe đón bà tại phi trường Liên Khương. Bà Phạm Thị Tự, ai cũng công nhận, là một giáo sư giỏi, cởi mở, có kiến thức rộng, óc khôi hài cao, rất duyên dáng. Đại tá Chỉ Huy Trưởng dường như quý mến bà một cách đặc biệt. Mỗi lần ông mời bà và Th/T Lê Ân đến dùng cơm tại tư thất, tôi cũng được mời đến “ăn ké”.

Đồng nghiệp Alain Bichet

Alain là giáo sư tại Lycée Yersin, có bằng Cao Học Sử, Đại Học Nanterre, còn trẻ, độc thân, đẹp trai, dân chơi thứ thiệt. Anh được mời dạy một lớp Pháp văn cho sinh viên Cử nhân Pháp tại Viện Đại Học. Một buổi chiều cả hai dạy xong thì trời vừa tối. Anh đi bộ ra cổng. Tôi chạy xe rề rề theo, hỏi anh có muốn quá giang về không. Anh OK. Hỏi ở đâu, anh đáp, đường Võ Tánh, gần bến xe Chi Lăng. Tôi reo lên, tưởng đâu, chứ mình là láng giềng đấy. Vào xe, mấy phút sau, Alain quay sang tôi, lo lắng hỏi, với cặp mắt chuyên nghiệp: “Thắng xe có ăn không đó?” Tôi đáp: “Không ăn lắm. Nhưng cứ yên trí, “Ne t’inquiète pas trop”, có gì, tôi thắng bằng hộp số. Chưa bao giờ xe lao xuống hồ”. Câu khôi hài vô duyên không làm Alain cười, trái lại, tôi liếc thấy, nét mặt anh đăm đăm pha chút lo âu.. Đến nơi an toàn, mình mẩy tay chân còn lành lặn, anh mừng lắm, mời tôi vô nhà, uống cognac, chuyện trò rất tương đắc cho đến khuya. Từ đó, Alain trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất của tôi. Tôi còn giới thiệu Alain cho Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh –người đã tham dự Hòa đàm Paris và nói tiếng Pháp rất lưu loát. Thỉnh thoảng anh mời Đại tá Quỳnh đến nhà dùng cơm, và ngược lại, Alain cũng được mời tham dự những buổi lễ lớn của Trường CTCT. Một lần, đầu tháng 4, 1975, anh cao hứng, mời cả Thiếu tướng Lâm Quang Thơ, chỉ huy trưởng trường Võ Bị, Đại tá Tỉnh trưởng Tuyên Đức Nguyễn Hợp Đoàn, Đại tá Tham Mưu trưởng Võ Bị tên Vân, Đại tá Quỳnh và tôi đến tư gia uống rượu và ăn cơm tối. Ba ông đại tá nói ít, mặc dù giỏi tiếng Pháp, còn Thiếu tướng Thơ, vốn xuất thân trường Thiết giáp Saumur, nói nhiều, gần như độc thoại, rổn rảng, giọng điệu, phát âm rất đúng, y như dân Tây thứ thiệt.

Trước ngày Đà Lạt di tản, Alain quyết định ở lại, nói chờ máy bay của tòa đại sứ Pháp tại Bangkok hứa hẹn đến rước. Còn rủ tôi cùng chờ, rồi “dông qua Pháp tỵ nạn luôn”. Dĩ nhiên, tôi từ chối, vì còn ba mẹ và bao nhiêu người thân thiết. Chờ mãi, vài ngày sau 30/4, khi thành phố Đà Lạt bỏ ngỏ, quân dân di tản hết, Alain mới thấy mấy thằng du kích nằm vùng nhóc con kéo đến, không thèm gõ cửa, cầm súng bước vào còng tay dẫn đi… cải tạo, bắt ăn khoai mì luộc, uống nước lã thay rượu một tuần lễ, về tội làm “gián điệp” cho Phòng Nhì Pháp hay CIA Mỹ. Alain, có lẽ vì thế, căm thù Việt Cộng còn hơn chính tôi căm thù. Đang vui mà ai nhắc đến VC, mặt anh sa sầm, đanh lại, mắng mỏ không tiếc lời. Trên bàn làm việc tại nhà, ở Đà Lạt hay Nanterre, luôn có một lá cờ vàng nhỏ, như một kỷ niệm. Năm 1984, tôi vượt biên và tắp đảo Palawan (Phi). Nhân chuyến công tác tại Manila, anh đã tạt qua trại thăm, cho tôi một số tiền franc dằn túi trống rỗng, và một vài quyển tiểu thuyết Pháp mới xuất bản. Mỗi lần qua Paris tôi đều đi gặp Alain –sống ở Nanterre, đường Gambetta, cùng với ông bà cụ thân sinh mà tôi đã quen biết trước 1975 khi họ sang thăm con tại Đà Lạt. Anh là con một, vẫn độc thân, già đi nhiều, râu quai nón úa trắng. Bà mẹ than phiền, “nó không chịu lấy vợ cho bác có cháu bồng”. Alain hiện làm trong bộ Giáo Dục với chức Tổng thanh tra các trường Pháp trên thế giới, đi nhiều nước. Hàng năm đến Mỹ, anh đều gọi điện thoại cho tôi.

Không hiểu sao, lúc ấy, Alain Bichet (và cả Linh mục Maïs) không ưa Nguyễn Hồng Giáp, và ngược lại. Tôi đứng giữa, khổ tâm lắm, vì phải bênh cả hai bên.

Tôi dạy được hai năm tại Viện Đại Học Đà Lạt và trường Đại Học CTCT, từ tháng 1, 1973 đến tháng 4, 1975, thì tan hàng. Đêm Đà Lạt di tản, tôi phải bỏ lại chiếc Peugeot Bảo Đại trước nhà, vì không có xăng. Thằng cán ngố nào vớ được chắc cũng sẽ khổ vì nó. Tôi quá giang xe jeep của Văn Hóa Vụ trưởng Lê Ân, cùng với một thiếu úy thuộc khoa Nhân văn Xã hội, và bác sĩ Đặng Phùng Hậu, trưởng bệnh xá trường ĐH/CTCT cũng từ khóa 4. Gia đình Th/T Ân đã về Sài Gòn trước. Cuộc di tản vô cùng gian truân, nguy hiểm, nhiều người đã kể.

Đến Bình Tuy, tôi và Th/T Lê Ân và các bạn đồng hành chia tay nhau, đường ai nấy đi. Cho đến khoảng hạ tuần tháng 6/1975. Bị nhốt tại trại tù cải tạo Long Giao (cùng với Bác sĩ Đặng Phùng Hậu, hiện ở Texas), một buổi trưa, tôi lần mò qua khu giam giữ sĩ quan cấp tá, và được gặp lại Th/T Lê Ân. Cả hai mừng rỡ, chạy lại bên nhau, và qua lớp hàng rào kẽm cao hơn đầu người, hỏi thăm sức khỏe của nhau. Ông có vẻ ốm yếu hơn, mặt tái xanh hơn. Nhưng như thường lệ, ông vẫn lắc lắc đầu, nói với giọng Quảng lai Huế:

– Cháng gướm!

Từ đó không bao giờ tôi còn gặp ông nữa, không nghe ai nói về ông, không biết ông ở đâu mà tìm. Ở các trại ngoài Bắc, tôi gặp một số sĩ quan cơ hữu và cựu SVSQ của Trường, chứng kiến tận mắt cái chết của Trung tá Nguyễn Văn Năm, cựu Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến, và Trung tá Tham Mưu Trưởng Nguyễn Quang Hưng của trường ĐH/CTCT. Còn ông, thì biệt vô âm tín. Tôi không bao giờ quên được ông, vẫn cố tìm gặp, trong vô vọng.

Rồi một hôm, tôi nghe ai nói ông đã chết, vì bệnh. Mặc dù người đưa tin, tôi không nhớ ai, cam đoan là đúng sự thật, nhưng vì thiếu chứng cớ và vì thương ông tôi vẫn bán tín bán nghi, hy vọng tin đó sai. Tôi vẫn tưởng ông còn sống ở đâu đó tại Việt Nam, tại Mỹ, tại Pháp, tại Úc. Cho đến một ngày bà Lê Ân và cháu Bích Vân bất ngờ email cho tôi, qua trung gian Tổng Hội Ái Hữu Cựu SVSQ/ĐH/CTCT/ĐL, báo ông đã mất thật rồi, sau khi cải tạo về, vì bạo bệnh. Tôi buồn đứt ruột. Nhưng hy vọng rằng ở bên kia thế giới, ông đã tìm được sự giải thoát, không còn thở than “cháng gướm” nữa, không còn “giữ chùa” cho đứa nào nữa, và tất cả mọi sự được tốt đẹp cho ông hơn trong cuộc đời này.

Đà Lạt ơi, vĩnh biệt

Giã từ Đà Lạt trong đêm và theo trường Đại Học CTCT chạy về Sài Gòn, qua ngõ Phan Thiết, tôi chưa một lần trở lại. Thời gian trôi như nước chảy dưới chân cầu mà nỗi nhớ không buông rời. Để những chiều sương mờ vây phủ Portland, lái xe ngang thung lũng ngợp gió có rặng thông già rung mình vẩy những hạt mưa nặng trĩu lá cành, tôi thấy hồn chơi vơi biết bao kỷ niệm của Đà Lạt ngày nào từng hàng, từng lũ kéo về. Những kỷ niệm vàng phai, như mùa thu lá úa, như bóng trăng lẻ loi. Thương hoài dáng em qua đồi xưa, mái tóc đầy hương sõa bay theo gió, và vòng tay quanh bờ vai run rẩy dưới sương chiều lạnh giá. Những chiều mưa bay lất phất nghe cây lá đong đưa lời hoa tình tự và tiếng em hát, gợi nhắc Dalida, bài “Le jour où la pluie viendra… Nous serons toi et moi les plus riches du monde… Ngày mà mưa sẽ đến… chúng ta anh và em sẽ là những người giàu nhất trần gian…”. Những buổi sáng nhìn qua khung cửa sổ chờ mặt trời lười biếng thức dậy trên đỉnh núi xa mờ. Những bước chân em về với đêm xanh và mộng xôn xao ngoài hiên vắng. Nhớ hoài một thuở tình yêu vừa đến, chưa kịp nói lời biệt ly, chưa thấy những vết chân chim trên đuôi mắt, chưa học tiếng dối gian, phản trắc, và chưa một lần biết hỏi, như Hàn Mặc Tử:

Hiểu gì không ý nghĩa của trời thơ?
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Và uyên ương bởi đâu không đoàn tụ?
Và tình yêu sao lại dở dang chi?
Và vì đâu, gió gọi giật lời đi?

Để rồi từ đó, những lúc phiền muộn, thất vọng về thói đời đảo điên, vàng thau lẫn lộn, tôi tìm về kỷ niệm của Viện Đại Học Đà Lạt cũ, vô cùng dễ thương, biết trọng đạo lý, khi trường chưa rơi vài tay giặc Cộng, khi đám sinh viên Thụ Nhân hải ngoại trở cờ, bỏ cờ chưa lòi đuôi chồn cáo, và khi tình yêu còn xanh biếc như màu mây trên đỉnh trời…

Xa Đà Lạt, tôi chưa hề về thăm. Chỉ một lần, tháng 6 năm 2010, nhân dịp Tổng Hội cựu SVSQ Đại Học CTCT tổ chức đại hội ở Nam Cali, tôi đã đến tham dự, để tìm gặp lại Đà Lạt, nhưng chỉ trong cơn mộng. Đêm cuối tại Quận Cam, lần đó, tôi đến ở nhà cô em họ, Thalia, cựu nữ sinh trường Oiseaux, cũng biết nhiều về Ðà Lạt. Nói chuyện cho mãi đến khuya.

Thalia rót rượu cho tôi, và hai anh em bắt đầu kể cho nhau những kỷ niệm Ðà Lạt. Những kỷ niệm đã úa tàn theo năm tháng. Có yêu thương, gắn bó. Có chia lìa, tan tác. Có nuối tiếc, ngậm ngùi. Ðà Lạt của một thời để yêu và một thời để chết. Un temps d’aimer et un temps de mourir, Thalia nhắc. Ðà Lạt, đêm ấy, chúng tôi đã trở về trên những lối mòn của ký ức, trên từng nhịp đập của con tim, trên những bước chân lạc loài của đời lữ thứ, trên từng kỷ niệm dấu yêu chưa mờ phai. Khu Chi Lăng, Hồ Than Thở, nơi tôi cư ngụ và phục vụ trường ĐH/CTCT. Chợ Hòa Bình rực rỡ màu áo, tấp nập người qua lại. Những quán nhỏ phía dưới rạp hát Ngọc Lan, đối diện bờ Hồ, với ly kem dừa mát rợi cổ họng, đĩa gỏi đu đủ trộn với nước mắm cay xé óc, và những cuốn bò bía chấm tương đen ngọt. Đường Phan Đình Phùng dài hun hút với tiếng gõ lóc cóc trong đêm lạnh của anh Tàu đẩy xe hủ tiếu mì khói bay nghi ngút. Những con phố vắng lặng, đìu hiu, có bậc cấp lên xuống. Tiệm ăn Pháp L’Eau Vive của các bà sơ Domaine de Marie với món cá thập cẩm bouillabaisse bất hủ của miền Provence nấu với vang trắng, ly rượu Bordeaux sóng sánh ngọt chát môi hôn, và tiếng dương cầm dìu dặt. Nhà thờ Con Gà cổ kính mỗi sáng Chúa nhật tôi đến xem lễ, nguyện cầu cho quê hương sớm thanh bình và tình yêu được mãi bền lâu. Và thác Prenn, suối Cam Ly mà dòng nước chưa cuốn đi những lời thề đã lỡ. Tôi nhớ quá, nhớ hết, nhớ ray rứt về một Đà Lạt chưa hề thấy lại, bây giờ chỉ còn là kỷ niệm xa khuất. Ðà Lạt yêu kiều, đầy thơ, đầy mộng, đầy tiếng ái ân, ngọt ngào như hơi thở, ngất ngây như nỗi nhớ, nay còn gì đâu trong tay bọn bạo tàn sau hơn một phần tư thế kỷ.

Em đã một lần, Thalia nói, trở lại thăm Ðà Lạt, và không có nỗi thất vọng nào hơn. Tan nát, thê lương. Thà như anh, không bao giờ trở về, để mãi mãi thấy Ðà Lạt vẫn đẹp như một mỹ nhân không muốn cho đời thấy tóc xanh đổi màu.
Hay, tôi nói thêm, vẫn đẹp như một mối tình dang dở.

kim thanh
Portland, 15/4/2014

Tâm bút tháng một, hai không mười lăm, LNTH

tambutthang1,2015

Bây giờ là tháng 11 ta, còn dăm tuần nữa Xuân Ất Mùi sẽ về. Thường thì trước thềm năm mới, tôi luôn rộn ràng mừng Tết, nhưng năm nay thì khác hẳn. Bây giờ tôi không còn cái háo hức của thời trẻ con được áo mới, bao đỏ đầy tay; hay thời má đỏ môi hồng mừng Xuân về với trái tim đập mạnh những tiết điệu tình yêu. Thay vào đó, vướng bận những suy nghĩ, lo âu về thời cuộc đảo điên hiện tại trên thế giới; về 40 năm biệt xứ kể từ ngày giặc đỏ tràn vào miền Nam Việt Nam Cộng Hoà: 30.4.1975.

Một
Cuộc thống nhất xứ Đức và cuộc thống nhất tại Việt Nam

Sau 28 năm hiện hữu, bức tường ô nhục Bá Linh sụp đổ vào đêm mùng 9 rạng ngày 10 tháng 11 năm 1989, xoá bỏ chế độ cộng sản trên phần đất phía đông xứ Đức. Hai phần nước Đức hợp nhất thành một trong niềm hân hoan của người Đức và chắc chắn của rất nhiều người khác trên toàn thế giới.

Chế độ cộng sản tại châu Âu tan vỡ theo bức tường. Trên thế giới chỉ còn lại Cuba ở Trung Mỹ, cùng với 3 xứ tại châu Á “thoi thóp” níu kéo cái mộng tưởng “cộng sản”. Đó là Trung cộng, Bắc Hàn và Việt cộng. Tại những nơi này, chế độ cộng sản có thật sự tồn tại như giáo điều của Karl Marx, Lenine hay đã hủ hóa trở thành Tư bản đỏ?. Tầng lớp có quyền hành và tầng lớp có tiền của đang “nuôi nấng nâng đỡ” nhau để bóp chết đám dân ngu khu đen. Nghĩ cho cùng, lúc trước người ta hô hào san bằng giai cấp tư bản và tiểu tư sản chỉ là để ngày nay phát sinh ra giai cấp “thống trị” và “bị trị” mà thôi. Xưa kia giai cấp công nông được tuyên truyền cổ vũ phải “vùng lên làm cách mạng”, thật ra chỉ là để mở đường cho một ông chủ khác về thay thế, trăm lần tàn độc hơn ông chủ cũ. Viết đến đây tôi chợt nhớ đến tác phầm Animal Farm của George Orwell, phát hành từ tháng tám 1945. Một tác phẩm mà theo tôi, tác giả mô tả sinh hoạt trong một trại thú vật để gói ghém hình ảnh xã hội cộng sản của loài người.

Người dân Đông Đức rất may mắn. Khi xứ sở thống nhất, họ được đón ngay vào thế giới Tự Do với bàn tay mượt mà nhung lụa của Tư bản duy tâm bao dung. Còn Việt Nam, khi thống nhất thì rơi tỏm ngay vào địa ngục cộng sản. Miền Nam Việt Nam Cộng Hoà phải hứng chịu tù tội, thương đau, oan ức. Cả quê hương bây giờ càng lúc càng lún chìm trong tăm tối.

Tính tới ngày hôm nay, Đức thống nhất được 25 năm và Việt Nam thống nhất được 39 năm 3 tháng. Khi so sánh sự phát triễn về an sinh xã hội và kinh tế hiện tại của Việt Nam và Đức sau khi thống nhất, chúng ta sẽ đau lòng đến chết đi được. Nếu sự phát triển của hai xứ cùng chiều thì cho dù có sự chênh lệnh to lớn về vận tốc hay mức độ phát triển đến cỡ nào, đám sâu mọt ngu dân tại Ba Đình cũng có một chút gì để có thể khoe khoang khoác lác về đường lối cai trị của chúng. Đàng này, sự phát triễn cùa Việt Nam cộng sản đi theo chiều nghịch với một vận tốc rơi tối đa. Đám người hèn nhát kia đang đẩy dân tộc Việt Nam đi vào hố sâu địa ngục. Sự tham lam, dốt nát và bất tài của chúng đã tiêu diệt cả một dân tộc.

Ấy thế mà vẫn luôn có người tại hải ngoại hô hào cổ võ một cuộc sống chung hoà giải hoà hợp với Việt cộng, thậm chí còn mơ tưởng có thể đánh thức lương tâm của lũ chóp bu Ba Đình hầu xây dựng một Việt Nam Tự Do Độc Lập Nhân Ái Công Bằng. Sẽ hoàn toàn sai lầm nếu dùng trường hợp Đông Đức để biện minh cho sự hô hào cổ võ này. Lý do: khi thống nhất nước Đức, phần đất phía Đông được người dân và những nhà lãnh đạo phía Tây giang tay đón nhận. Hoàn toàn khác hẳn với tình trạng “thống nhất“ tại Việt Nam, miền Nam Việt Nam đã bị những tên lãnh đạo miền Bắc bóc lột và trả thù một cách bạo tàn thâm độc
Không những thế, cá nhân tôi nhìn thấy đây là một điều không tưởng vì lũ chóp bu Ba Đình chỉ là con chó trung thành và khiếp sợ oai lực của ông chủ lớn Bắc Kinh. Vị thế của Hà Nội và Bắc Kinh hiện tại khác hẳn tình hình của Nga sô, Đông Đức vào thời điểm 1985-1991. Ngoài ra cũng đừng nên quên hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, vị thế chính trị, tương quan giữa Đông Đức và Tây Đức khác với Việt Nam.

Hai
IS và thế giới tự do

Tôi không khỏi rùng mình chuyện họ chém đầu người ký giả Mỹ. Tôi thật sự không dám xem clip video đó. Con người ta có thể dã man tàn bạo đến thế sao? Thậm chí có những người sinh ra và lớn lên tại đây, được hấp thụ một nền giáo dục nhân bản tự do, nhưng vẫn bị “ma ám”, tình nguyện đầu quân đi chiến đấu cho IS. Tôi tự hỏi không rõ nguyên nhân nào có thể lôi cuốn họ “điên cuồng” đến như thế.
Niềm hãnh diện dùng máu người để củng cố một niềm tin tôn giáo. Thật quá sợ hãi ! Chúng ta đang ở thế kỷ nào đây?

Đầu năm dương lịch 2015 đã mở màn bằng cuộc khủng bố thảm sát tại Paris. Máu người tuôn chảy vì tự do ngôn luận. Nhóm người Hồi giáo cực đoan muốn dùng súng đạn để hủy diệt đệ tứ quyền. Thế giới bàng hoàng, sửng sốt. Nhưng trong đau thương đó, ngoài việc tưởng niệm những người đã nằm xuống vì tự do ngôn luận và những nạn nhân bị hoạ lây kéo vào cuộc, nước Pháp và thế giới, mọi tôn giáo, kể cả những người Hồi giáo không thuộc nhóm cực đoan, mọi dân tộc và mọi thành phần trong xã hội đã đoàn kết cùng mãnh liệt phản kháng và lên án hành động dã man này.

Tổng thống Đức đã phát biểu tại Bá linh ngày 13 tháng 1 năm 2015:
Chúng ta là một xứ Đức” (Wir sind Deutschland)
“bọn khủng bố muốn chia rẽ chúng ta nhưng cái chúng đạt được là cái ngược lại (Die Terroristen wollen uns spalten, erreicht haben sie das Gegenteil)

Sự kiện này đã làm giảm bớt rất nhiều sự âu lo của tôi cho thân phận tha hương của mình trên quê hương tạm dung. Tôi đã rất bận tâm từ khi chiến dịch PEGIDA nổi lên tại Đức. (Tại Đức không ít người hiểu rằng: mặt nổi phong trào này là chống Hồi giáo hoá châu Âu, nhưng mặt chìm tàng ẩn một mục tiêu khác.)
Vì ai mà hôm nay tôi phải mang thân chùm gởi để luôn lo sợ những trận cuồng phong thổi bay mình, tan biến trong đám bụi hồng trần?
Câu trả lời thật ngắn gọn:  Việt cộng

Ba
Nga và miếng đất béo bở Ukrain

Bàn cờ Nga-Mỹ-Châu Âu với con cờ Ukrain bao giờ thì tàn? Sẽ còn tốn bao nhiêu máu xương nhân loại? Ngày lại ngày qua, người ta vẫn tiếp tục dùng sinh mạng của người khác để làm phương tiện cho cái gọi là “hoà đàm”.
Trong chương trình Album 2014 của đài ZDF tại Đức, một lời bình luận về chuyến bay Malaysia MH 17 bị bắn rơi trên vùng trời phía Đông Ukrain vào tháng 7 năm 2014, làm tôi thật ngậm ngùi…người ta xử dụng mạng sống của 289 người dân vô tội từ mọi thành phần làm đồ chơi trong cuộc tranh chấp chính trị.

Bốn
Một con mèo bị nướng và văn hoá của một dân tộc

Tôi sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Nước tôi lúc đó triền miên khói lửa chiến tranh nên so với các xứ tư bản tân tiến, chỉ đứng ở một vị trí khiêm nhường. Dù vậy, trong mọi giao dịch quốc tế (du học, công vụ), người Việt Nam Cộng Hoà đều mang lại niềm hãnh diện cho quê hương.

Sau Quốc Hận 30.4.1975, người Việt Nam Cộng Hòa mất nước, trở thành dân tỵ nạn cộng sản. Cộng đồng người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản trên thế giới hay tại xứ Đức luôn cố gắng hoà nhập vào xã hội bản xứ, sống theo đúng nguyên tắc với niềm tự hào của dân tộc và của cá nhân. Riêng tại xứ Đức, người Việt Nam tỵ nạn cộng sản còn được dân bản xứ biết nhiều qua cái tên con tàu Cap Anamur. Người dân bản xứ và người Việt Nam tỵ nạn sống bình an trong niềm kính trọng và yêu thương giúp đỡ nhau.

Hiện tại người Việt Nam tại Đức còn nổi danh thêm như cồn! Thưa đúng, người Đức ở đây nhập cục thành một, gọi chung là “người Việt Nam”, bất kể những người đó trước khi đến Đức đã sinh sống ở đâu và đến Đức trong hoàn cảnh nào. Sau ngày thống nhất nước Đức, người Việt màu Vàng tỵ nạn cộng sản bị trộn lộn với người Việt màu Đỏ từ miền Bắc tới và người Việt màu Hồng từ miền Nam Việt Nam Cộng Hòa nhưng không rõ lằn ranh Quốc Cộng, (chú thích: đây là các cách gọi của cá nhân tôi dùng để phân biệt các nhóm người Việt). Người Việt lâu nay vang danh do có rất nhiều cá nhân đạt được thành quả vượt bực trong học đường, thể thao, hội nhập và sinh hoạt tích cực trong mọi hoạt động thuộc về an sinh xã hội v.v… Thậm chí còn có người được tưởng thưởng huy chương cao quý của chính quyền Đức. Nay thì ôi thôi, tiếng tăm vang dậy thêm nhờ tài đâm chém, buôn bán lậu thuốc lá, buôn người, trồng “cỏ”. Gần đây lại “được vinh hạnh” lên báo vì chôm chỉa mèo hàng xóm nướng ăn!

Niềm vinh thì bọn không công được hưởng ké. Nỗi nhục thì nhóm vô tội chịu họa lây.

Tôi chỉ còn cách cố gắng sống một cuộc sống theo đúng luật lệ hiện hành, cư xử theo đúng trách nhiệm, lương tâm và đạo đức của một con người được đào tạo dưới nền giáo dục Việt Nam Cộng Hoà để không làm hổ thẹn tiền nhân và đấng sinh thành. Tôi luôn khẳng định với những thân hữu bản xứ hiểu về sự phức tạp của cái mà họ cứ gọi chung “người Việt Nam”. Tôi kiên nhẫn giải thích cho họ hiểu tường tận và yêu cầu họ phân biệt rõ ràng các khối người Việt trên xứ Đức.

  • Tôi là người Việt Nam tỵ nạn cộng sản. Cộng đồng của tôi đứng dưới lá quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà màu vàng và 3 sọc đỏ.
  • Nhóm người đứng dưới lá cờ máu, không cùng ý thức hệ với tôi,
  • và đặc biệt người Việt Nam nào không chọn đứng dưới lá cờ nào, cũng chưa thể khẳng định họ cùng ý thức hệ với tôi.

Và cuối cùng, tôi nói với các thân hữu bản xứ, tôi sẳn sáng hầu chuyện với bất kỳ người nào đưa ra lời giải thích khác hơn lời giải thích của tôi.

Viết đến đây, tôi lại nhớ tới những lời xa gần, những phong trào nhỏ lớn phản đối nghi lễ chào cờ Việt Nam Cộng Hoà trong các cuộc Đại Hội Ái Hữu cựu học sinh có tầm vóc toàn trường hay trong phạm vi lớp, với một chương trình tổ chức chính thức (xin nói rõ, không phải là một nhóm nhỏ của lớp độ dăm ba người gặp nhau thăm hỏi). Các vị ấy quên rằng, trong trận chiến Chiến tranh Chính trị và Tư tưởng Quốc Cộng vô cùng gay cấn hiện nay, lá quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà xác định chiến tuyến của bạn thuộc cánh nào. Một đám cộng sản chính quy chỉ trương lá cờ máu. Ý nghĩ từ chối lá cờ luôn luôn có trăm ngàn lý do để nguỵ biện, mà cái thường nghe nhất là vì họ “nghĩ đến an nguy của bạn bè từ trong quốc nội đến tham dự”. Thật có lòng!!!.
Nếu thực tâm nghĩ đến bạn bè và muốn che chở cho nhau, tôi không nghĩ là không có cách khác. Theo tôi chỉ là viện cớ để che dấu dã tâm toan tính một điều lợi nào đó cho cá nhân họ mà thôi.
Nghịch lý một điều là khi người quốc nội tổ chức các cuộc họp mặt, treo nhan nhản cờ, hình, khẩu hiệu cộng sản, người từ nước ngoài về tham gia, vui vẻ cười duyên chụp hình mà chưa bao giờ tôi nghe người quốc nội đặt vấn đề bạn mình là dân tỵ nạn, chụp hình có cờ, hình cộng sản, sợ cho bạn mình khi trở về sẽ bị sở di trú quốc gia cho tỵ nạn làm khó dễ !!!

Năm
Sinh viên HongKong.

Tôi có đến HongKong hai lần khi mảnh đất này chưa bị trao trả cho Trung cộng. Lần đầu tới đây, khoảng tháng 10 năm 1994, tôi vẫn còn nhận ra phần nào mùi tự do tại đó, mặc dù người ta đã bắt đầu ồ ạt xin đi chính thức, di cư ra khỏi HongKong. Đời sống vẫn còn bình yên và tràn đầy sắc thái ồn ào, nào nhiệt. Mọi sinh hoạt vẫn bình thường.
Hai năm sau, hè năm 1996 tôi ghé lại Hongkong vài ngày trên chuyến bay đi Nam Dương, thật buồn… Tôi sống lại hình ảnh của Sàigòn vào những ngày của tháng 3 năm 1975. Người HongKong bỏ đi nhiều lắm. Những căn nhà thật nguy nga tráng lệ bỏ hoang vô chủ dọc bờ biển trên bán đảo Victoria. Các khu thương mại sang trọng bán hàng mắc tiền sầm uất của HongKong không còn dáng vẻ cũ, đồ đạc đại hạ giá tối đa, ngập đầy những khách hàng, thay vì xách ví, ăn mặc lịch sư thì chỉ còn là những người đi dép và xách giỏ đi chợ. Thờ ơ vô tình tới đâu cũng nhận ra cái không khí nặng mùi này. Tôi gọi đó là mùi tử khí của cộng sản!

HongKong trở về với “Mẹ” Trung cộng ngày 1.7.1997.
Đứa con nào vui? Đứa con nào buồn?
Có lẽ lịch sử của Việt Nam tái diễn mà thôi.

Cuối tháng 8 năm 2014, sinh viên HongKong biểu tình đòi quyền tự do dân chủ trong việc bầu cử.
Họ cũng như đồng bào tôi tại quê nhà Việt Nam đang dùng chính mạng sống mình làm vũ khí chiến đấu với kẻ ác cầm súng đạn, dùi cui, để đòi quyền làm người tại Việt Nam.
Tôi ngả nón trước những cử chỉ anh hùng này và hết lòng yểm trợ trong khả năng của mình.

Sáu
40 năm quốc hận

Thời gian 40 năm nhanh như một chớp mắt cho những việc không chờ đợi, nhưng thật là dài, như bốn thế kỷ khi mình mòn mỏi ngóng trông một thay đổi.
Lũ giặc đỏ đã chiếm Việt Nam Cộng Hoà 40 năm. Thời gian đủ cho một thế hệ sanh ra và trưởng thành sau 30.4.1975 không còn biết gì về Việt Nam Cộng Hoà, nếu bậc gia trưởng không nhắc nhở. Ngậm ngùi quá !

Tôi không biết họ nghĩ gì, những người đã rời bỏ quê hương chấp nhận hy sinh mạng sống vì chính họ muốn tìm Tự Do sau ngày 30.4.75 và bây giờ trở lại Việt Nam chỉ với mục đích tìm Vui. Họ thật sự nghĩ gì?

Ở đây có một điểm đáng nói là ngoài hành động đâm sau lưng Quân Dân Cán Chính, vô ơn hất đổ chén máu vị quốc vong thân của những bậc tiền nhân anh hùng dựng nước và giữ nước, họ còn chê bai nhạo báng, phê bình những người vạch rõ lằn ranh Quốc Cộng, dứt khoát không quay trở lại nơi mà Việt cộng đang tung hoành thống trị. Một trong những ngụy biện… quê hương sao mà quên được, sao mà bỏ được?, chống hoài cũng không tới đâu! về để giúp dân, thậm chí có người nói, trong mắt họ không có lá cờ cộng sản mà chỉ có người dân đáng thương! …Họ làm sao biết được nỗi lòng của chúng tôi?

  • Không quay về, không có nghĩa xoay lưng bỏ mặc đồng bào đang chịu khổ đau dưới gông xiềng cộng sản.
  • Chống Việt cộng không có nghĩa chống lại người dân đang ngậm đắng nuốt cay bên kia đại dương. Không chấp nhận cộng sản trên mọi hình thức không có nghĩa là máu lạnh và khát máu.
  • không về tận nơi lại càng không có nghĩa là không thể nào giúp đồng bào bất hạnh trong nước.

Thật đau lòng vì vấn nạn này trong cộng đồng Việt nam tại hải ngoại.

Những chuyến bay về Việt Nam của tất cả các hãng hàng không luôn đầy ắp người Việt, nhất là vào dịp tết. Chẳng lẽ một vết sẹo sâu tới tim lại có thể bị xoá nhoà trong vỏn vẹn 40 năm. Việt cộng xử dụng chén cơm Pavlov thật tài tình để làm quên hẳn một dĩ vãng đen tối.

May mắn thay bên cạnh tôi vẫn còn những tâm hồn Quốc Gia khả kính, vẫn còn những chiến hữu cùng lý tưởng đang cùng tôi thắp sáng những đốm lửa nhỏ để làm cháy sáng hào khí Diên Hồng tranh đấu cho một Việt Nam Tự Do.
40 năm đã đủ đợi chờ. Chúng ta, những người còn sống hôm nay chắc không ai muốn bỏ nắm xương tàn nơi đất khách.

lê ngọc tuý hương
tháng một, hai không mười lăm.

Câu thơ theo mãi, Phan Hạnh (Toronto)

cttm

Câu thơ ấy ghim trong trí nhớ tôi từ thời trung học. Trí nhớ hao mòn theo năm tháng; câu thơ ấy vẫn còn nguyên đó nằm lòng.Đồng văn Nam, ông thầy dạy Pháp văn sinh ngữ 1 suốt 3 năm các lớp Đệ Lục, Ngũ, Tứ, chỉ khoảng trên 50 tuổi nhưng trông già hơn, dáng gầy gò khắc khổ, nét mặt nghiêm nghị, dáng bước phất phơ. Mỗi khi ông dõng dạc cất tiếng, tuy đôi mắt ông không cố mở to, bọn học trò chúng tôi im ngay. “Silence!” “Allez au tableau!” “Sur vos genoux!” (Im lặng! Lên bảng! Quì gối!) Đôi khi ông nổi nóng hét mắng “Ferme ta gueule!” (Câm cái mõm mầy lại!). Chúng tôi tuân phục mệnh lệnh thầy với sự kính nể chứ không thù ghét.Đến bây giờ nghĩ lại, tôi biết đó là sự tận tụy của thầy muốn dạy cho đám học trò học hành tử tế. Nhờ ông khó mà bọn con trai lười biếng học như tôi ngày nay còn một mớ tiếng Tây ghim lại trong đầu, như câu thơ “Un seul être vous manque et tout est dépeuplé” trong bài thơ L’Isolement của Alphonse de Lamartine chẳng hạn.Theo lẽ thường, người ta chỉ nhớ một hay hai câu đầu của bài thơ chứ ít khi nào nhớ những câu nằm ở giữa. Vừa nghe “Trăm năm trong cõi người ta…” là biết ngay đó là câu thơ mở đầu của Truyện Kiều của Nguyễn Du. Tương tự, “Thuở trời đất nổi cơn gió bụi…” là Chinh Phụ Ngâm của Đoàn Thị Điểm, “Trước đèn xem chuyện Tây Minh…” là Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, “Nàng có ba người anh đi bộ đội…” là Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan, “Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn…” là Hai Sắc Hoa Ti Gôn của TTKH, v.v… Vậy mà học bài thơ L’Isolement dài 52 câu (13 phân đoạn, mỗi phân đoạn 4 câu) của Alphonse de Lamartine, hầu như ai ai cũng chỉ nhớ nhất câu thứ 28 (cuối phân đoạn 7). Thầy thách thức cả lớp học xem có đứa nào dịch được câu này cho thật đúng; đám con trai ngồi há hốc trơ mắt ếch. Một thằng liều mạng:”Chỉ vắng một người thôi là chẳng còn ai hết

Trong lớp có vài tiếng cười khúc khích nổi lên; thầy lại quát “Silence!” Một đứa khác đưa tay lên:

Chỉ một vật thôi mà bạn thiếu thì tất cả không có người

Thầy Nam lại phải giảng thêm ý của câu thơ đó là, “nếu người nào đó (hay cái gì đó hay vật gì đó) mà ta thiếu mất đi rồi thì bấy giờ đối với ta cả thế gian này không còn nghĩa lý gì nữa cả; tất cả xem như vắng tanh trống rỗng.”

Dù ý tổng quát của câu thơ tôi nắm vững nhưng làm sao dịch thành thơ cho nổi nên tôi ngồi im và chỉ sợ thầy gọi tên mình thì khổ đời. Một số học sinh khác bạo gan đưa tay lên xin dịch, phần nhiều là con gái. Sau cùng, một chị dịch:

“Một người mà thiếu trong ta
Thế gian đông mấy cũng là vắng hoang.”

Thầy khen “Très bien!” và cả lớp cũng công nhận câu dịch hay. Chị đó là con lai có mẹ Việt cha Pháp, thảo nào.

Câu thơ đã dán keo dính chặt trong trí nhớ tôi, cứ lâu lâu nổi lên như trêu ghẹo. Cứ mỗi lần tôi nghe câu tiếng Việt nào mang ý nghĩa giống ý của câu “Un seul être vous manque et tout est dépeuplé!” thì tôi lại đoán già đoán non. Ví dụ như mỗi khi nghe ca sĩ Lệ Thu hoặc Thế Sơn hát bản nhạc Hỏi Người Còn Nhớ Đến Ta của Hoàng Thi Thơ, trong đó có câu “Và hỏi tại sao thế giới đông người nhưng chỉ thấy riêng ta…?“, tôi không khỏi thầm nghĩ: “L’Isolement của Lamartine đây!”

Bị kết án 4 năm tù vì giảng dạy bài thơ L’Isolement

Tình cảm lãng mạn chẳng giúp mang lại bạc tiền vật chất nhưng nó là một trạng thái tự nhiên của tâm hồn con người rất hấp dẫn. Nhưng người cộng sản miền Bắc từng cho đó là ủy mị, là sản phẩm độc hại làm bạc nhược tinh thần. Qua quyển hồi ký Pháp ngữ “Un Excommunié” (bản dịch Việt ngữ “Kẻ bị mất phép thông công” của Nguyễn Quốc Vỹ đăng trên Thông Luận 2009), luật sư Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997) có kể vụ cộng sản xử án một giáo viên dạy văn (“Procès d’un intellectuel“, phiên xử một người trí thức).

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường nhận định rằng đấy là một phiên xử quái đản duy nhất được biết trong lịch sử ngành tư pháp văn minh ngày nay. Ông kể rằng sau khi cộng sản tiếp quản Hà Nội năm 1954, giới lãnh đạo cao cấp ra lệnh triệu tập một phiên tòa để kết án một giáo sư dạy văn về tội “đã đầu độc tâm hồn sinh viên” qua việc giảng dạy bài thơ L’Isolement) của Lamartine. Quan tòa là đảng viên cộng sản; bị cáo là một giảng viên đại học tại Hà Nội không chịu đi theo kháng chiến.

Tại phiên xử, quan tòa cộng sản nói “Sự việc đã hiển nhiên. Có hay không có việc ông giảng dạy cho sinh viên tác phẩm Cô đơn (L’Isolement) của tác giả Lamartine và ca tụng nhà thơ này? Có hay không có việc ông tán tụng những vần thơ chán chường, mất hy vọng và bi quan yếm thế và hậu quả là đầu độc tâm hồn của giới trẻ đã nghe theo tiếng gọi của Đảng Cộng sản của chúng ta mà đứng lên muôn người như một để xây dựng lại nền Tự do, Độc lập và Tự hào Dân tộc?

Bị cáo đáp rằng ông không có ý chống phá chủ nghĩa cộng sản và ông cũng không tán tụng bài thơ L’Isolement của Lamartine. Chính trị và luật là hai lãnh vực khác nhau như sự trái ngược giữa ước mơ và sự thật vậy. Mơ ước là điều cho phép nhà chính trị làm khi mà những việc làm của họ là nhắm tới tương lai, nhưng luật là được xây dựng vững chắc trên những cơ bản vững chắc, của hiện tại và cụ thể. Không thể lẫn lộn giữa mơ và thực, giữa chính trị và luật. Lời buộc tội là một sự lạc đề, là một hành động hạ nhục và xúc phạm đến lòng tự trọng của người trí thức. Bị cáo nói:

Tôi không tán dương một ai dù người đó là người được mọi người ca tụng. Tôi không đứng ra bào chữa cho một chủ thuyết nào, ngay cả khi có hàng triệu người theo nó và ca tụng nó. Không, tôi chỉ phân tích, giải thích, cố gắng làm cho sinh viên hiểu cái trạng thái tình cảm mà không một kẻ độc tài nào, không một chế độ độc tài nào có thể xoá bỏ, khi mà tác phẩm ấy đã có mặt hơn một thế kỷ nay. Con người ai cũng liên tục mơ mộng cho đến một tuổi nào đó và trong một hoàn cảnh sống nào đó. Chỉ có những người cộng sản lão đời, những người khắc khổ không còn nước mắt mới cho rằng không thể có những giọt nước mắt khốn cùng của loài người, để tự nâng mình thành một loại siêu nhân.”

Chẳng ai bị cộng sản lôi ra tòa mà được tha bao giờ. Vị giảng viên đại học bị kết án 4 năm tù.

Dịch L’Isolement xong rồi vứt sọt rác

Trong bài viết Một Thời Rất Xưa đăng trên Đặc San Ái Hữu Đại Học Đà Lạt, Giáo sư Vương Văn Bắc có nhắc một giai thoại thú vị như sau:

Trích:

Tôi đặc biệt ưa thích mấy tập thơ của thi sĩ Lamartine. Tôi đã cặm cụi ngồi dịch bài thơ ‘L’Isolement’ (Cô Đơn) trong tập ‘Méditations Poétiques’ của tác giả này.Thấy tôi yêu thơ Lamartine như vậy, bà chị ruột của tôi, chị Giang, đã cố công đi mượn cho tôi bản dịch Việt ngữ của bài thơ nổi danh nhất của Lamartine, bài ‘Le Lac’ (Hồ Xưa). Phải nói là hai chị em tôi rất thương quý nhau, không những vì cha mẹ chỉ còn hai người con nhưng còn vì tính nết chị tôi rất đáng kính mến. Gia đình tôi cũng như phần lớn gia đình Việt Nam thời ấy có thói trọng nam khinh nữ. Khi tài sản trong nhà trở nên eo hẹp, chỉ có thể cho một người con đi học ở thủ đô Hà Nội mà thôi, cha mẹ tôi đã để cho tôi một mình đi học ở Trường Bưởi, còn chị tôi phải ở lại nhà giúp đỡ gia đình. Vậy mà chị tôi không bao giờ tỏ ý oán hờn ganh ghét, trái lại chị vẫn luôn luôn yêu quý tôi và coi những thành tựu sau này của tôi như những thành tựu của chính chị.Riêng về chuyện bản dịch bài Le Lac của Lamartine, cử chỉ ân cần của chị Giang đã có phản-tác-dụng. Không phải vì bài dịch dở quá mà là vì hay quá. Các bạn hãy thử xét xem. Đây là bốn câu đầu của nguyên bản Le Lac:Ainsi, toujours poussés vers de nouveaux rivages,

Dans la nuit éternelle emportés sans retour,
Ne pourrons-nous jamais sur l’océan des âges
Jeter l’ancre un seul jou?

Và đây là bản dịch mà chị tôi đã mượn được cho tôi xem, như tôi còn nhớ lõm bõm sau hơn nửa thế kỷ:

Kiếp phù thế thuyền trôi, trôi mãi
Qua bờ này lại tới bến kia
Trong đêm vô tận dài ghê
Biển đời một buổi khôn bề buông neo

Tuy không thoát khỏi được thường tình, quá ưa chuộng thơ văn của chính mình, nhưng trước những câu thơ, dù là thơ dịch, vẫn giữ nguyên vẹn được âm hưởng, ý nghĩa và dáng dấp Việt Nam, tôi cũng còn đủ lương thiện trí thức để thấy rằng thơ người là hay còn thơ mình dở quá, gượng gạo như anh lính Pháp thử nói tiếng ta, nên không ngần ngại, tôi liệng ngay bản dịch bài thơ “L’Isolement” của mình vào sọt rác, và từ đấy tôi cũng không hoài công cố gắng phiên dịch những bài thơ ngoại ngữ bất hủ sang tiếng nước mình nữa. Về sau nghĩ lại, có lúc tôi cũng cảm thấy hơi tiếc, nhưng không sao nhớ lại nổi những gì mình đã vứt bỏ. Tôi còn nhớ mang máng là mình đã dịch câu lừng danh nhất trong bài L’Isolement: ‘Un seul être vous manque et tout est dépeuplé’ như sau:

‘Vắng ai khắp cả đất trời quạnh hiu’.

Giáo sư Vương Văn Bắc
Nguồn: http://dshoihuu.blogspot.ca/2008/12/mt-thi-rt-xa_08.html
(Ngưng trích)

Câu thơ ‘Vắng ai khắp cả đất trời quạnh hiu’ được Giáo sư Vương Văn Bắc, cựu Tổng Trưởng Ngoại Giao VNCH, dịch cũng hay quá, thế mà ông chê dở và vứt vào sọt rác.

Tra cứu Internet, tôi tìm thấy có bốn bản dịch Việt ngữ khác của bài thơ L’Isolement tại các nối kết dưới đây.

Phạm Nguyên Phẩm. Nguồn: http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=18751
Câu 28: “Vắng một bóng mà đất trời yên lặng.”

Billy Nguyen. Nguồn: http://www.saimonthidan.com/?c=article&p=7930
Câu 28: “Với hồn tôi sa mạc, khi nàng vắng bóng.”

Trần Đông Phong. Nguồn: http://www.thivien.net/Alphonse-de-Lamartine/C%C3%B4-%C4%91%C6%A1n/poem-5bLsct5jUaIayNihGkVz7Q
Câu 28: “Thiếu dù chỉ một thảy đều vắng không.”

Tôn Thất Phú Sĩ. Nguồn:
http://tonthatphusi.eklablog.fr/76-l-isolement-ton-that-phu-si-phong-dich-a94827939
Câu 28: “Đã mất hẳn trong lòng tôi chai đá.”

Còn tôi, bề nào mình đã ở tuổi xế chiều nên không ngại tài hèn dịch bài thơ của Lamartine gọi là góp mặt với bạn thơ trên diễn đàn. Triết gia người Mỹ Ralph Waldo Emerson ở thế kỷ 19 đã nói “It is one of the blessings of old friends that you can afford to be stupid with them“, đại khái có nghĩa là “May phước là giữa bạn cũ/xưa/già với nhau thì dù mình có ngu ngốc với họ cũng chẳng sao.

L’Isolement

Souvent sur la montagne, à l’ombre du vieux chêne,
Au coucher du soleil, tristement je m’assieds;
Je promène au hasard mes regards sur la plaine,
Dont le tableau changeant se déroule à mes pieds.

Ici gronde le fleuve aux vagues écumantes;
Il serpente, et s’enfonce en un lointain obscur;
Là le lac immobile étend ses eaux dormantes
Où l’étoile du soir se lève dans l’azur.

Au sommet de ces monts couronnés de bois sombres,
Le crépuscule encor jette un dernier rayon;
Et le char vaporeux de la reine des ombres
Monte, et blanchit déjà les bords de l’horizon.

Cependant, s’élançant de la flèche gothique,
Un son religieux se répand dans les airs:
Le voyageur s’arrête, et la cloche rustique
Aux derniers bruits du jour mêle de saints concerts.

Mais à ces doux tableaux mon âme indifférente
N’éprouve devant eux ni charme ni transports;
Je contemple la terre ainsi qu’une ombre errante
Le soleil des vivants n’échauffe plus les morts.

De colline en colline en vain portant ma vue,
Du sud à l’aquilon, de l’aurore au couchant,
Je parcours tous les points de l’immense étendue,
Et je dis: “Nulle part le bonheur ne m’attend.”

Que me font ces vallons, ces palais, ces chaumières,
Vains objets dont pour moi le charme est envolé?
Fleuves, rochers, forêts, solitudes si chères,
Un seul être vous manque, et tout est dépeuplé!

Que le tour du soleil ou commence ou s’achève,
D’un oeil indifférent je le suis dans son cours;
En un ciel sombre ou pur qu’il se couche ou se lève,
Qu’importe le soleil? je n’attends rien des jours.

Quand je pourrais le suivre en sa vaste carrière,
Mes yeux verraient partout le vide et les déserts:
Je ne désire rien de tout ce qu’il éclaire;
Je ne demande rien à l’immense univers.

Mais peut-être au-delà des bornes de sa sphère,
Lieux où le vrai soleil éclaire d’autres cieux,
Si je pouvais laisser ma dépouille à la terre,
Ce que j’ai tant rêvé paraîtrait à mes yeux!

Là, je m’enivrerais à la source où j’aspire;
Là, je retrouverais et l’espoir et l’amour,
Et ce bien idéal que toute âme désire,
Et qui n’a pas de nom au terrestre séjour!

Que ne puîs-je, porté sur le char de l’Aurore,
Vague objet de mes voeux, m’élancer jusqu’à toi!
Sur la terre d’exil pourquoi resté-je encore?
Il n’est rien de commun entre la terre et moi.

Quand là feuille des bois tombe dans la prairie,
Le vent du soir s’élève et l’arrache aux vallons;
Et moi, je suis semblable à la feuille flétrie:
Emportez-moi comme elle, orageux aquilons!

Alphonse de Lamartine (1790 – 1869)

NoiCoDon
Ngồi dưới bóng sồi già trên đỉnh núi
Lúc chiều vàng tôi buồn bã lâng lâng
Dõi mắt nhìn cánh đồng ở dưới chân
Đang đổi sắc thay màu khi nắng xuống.

Này dòng suối rạt rào tung nước cuốn
Uốn cong rồi khuất dạng ở đàng xa
Kìa mặt hồ nước phẳng lặng bao la
Sao hôm mọc trên nền trời thẩm tú.

Trên dãy núi với rừng cây bao phủ
Trời nhá nhem chiếu tia nắng cuối cùng
Màn sương chiều ngự trị bóng mông lung
Tỏa màu trắng đường chân trời nhuốm bạc.

Bỗng từ nóc giáo đường vang tiếng nhạc
Trong thinh không vang dội một hồi chuông
Khách bộ hành dừng bước ở bên đường
Lòng rộn bởi thánh âm đêm vừa xuống.

Cảnh lịm ngọt nhưng lòng không lôi cuốn
Tôi dửng dưng hờ hững mãi suy tư
Quả đất này như bóng tối ảo hư
Dù nóng cũng không sưởi người đã mất.

Chập chùng núi bao gồm trong tầm mắt
Khắp bốn phương khắp trời đất bao la
Từ bình minh cho đến mãi chiều tà
Tôi chẳng thấy ở đâu là sung sướng.

Thung lũng núi đồi tôi nào muốn hưởng
Cung điện huy hoàng biệt thự nguy nga
Sông, đá, rừng, niềm cô quạnh mình ta,
Thiếu chỉ một, thế gian thành hoang vắng.

Sáng mặt trời lên rồi chiều tắt nắng
Cứ xoay quanh cho tròn một chu kỳ
Mọc rồi lặn tôi nào thiết tha chi
Mặt trời ư? Tôi không còn chú ý.

Khi nó quay một vòng quay hoành vĩ
Mắt tôi nhìn xuyên khoảng trống mênh mông
Chẳng muốn gì, tôi thấy chỉ là không
Chẳng đòi hỏi điều chi từ vũ trụ.

Có thể vượt ngoài thái dương tinh tú
Còn mặt trời khác chiếu sáng không gian
Tôi sẽ gửi thân ở lại trần gian
Điều tôi mộng sẽ hiện ra trước mắt.

Ở nơi đó tôi có niềm khao khát;
Gặp lại mình, hy vọng và tình yêu,
Tài sản này ai cũng ước ao nhiều
Người cõi thế không có tên để gán.

Tôi sẽ chất lên chiếc xe Hừng Sáng
Những món cần rồi sẽ vút bay đi
Cuộc sống lưu đày ở lại làm gì
Chốn trần thế tôi còn chi để tính?

Khi cánh đồng bị lá rừng phủ kín
Gió đêm lên cào xé khắp trũng sương
Và tôi đây như chiếc lá còn vương
Hỡi giông tố, hãy cuốn tôi theo lá!

Một người bạn từng bảo “Nó vận vào người anh rồi đấy!” Có lẽ cũng đúng thật, vì câu thơ ấy theo tôi mãi đến tận bây giờ…

Phan Hạnh. 23/12/2014.
PH-HCA

Tag Cloud