VIỆT NAM CỘNG HÒA

Dạo:
Xưng danh tỵ nạn với đời,
Mà ngày Quốc Hận sao người muốn quên?

Đừng Hỏi Tao Muốn Gì

           (Thay lời một người công dân VNCH
          còn bị kẹt lại trong địa ngục trần gian)

Hỡi thằng bạn xưa cùng tao chung lối,
Sớm vượt biên, giờ trôi nổi phương nao,
Cám ơn mày vẫn còn nhớ đến tao,
Và gửi tới cho nhau lời thăm hỏi.

Trong thư mày có nói,
Mày biết tao nghèo đói bấy lâu nay,
Nên muốn gì thì cứ bảo mày hay,
Chuyến về tới, mày “ra tay tế độ”.

Nhưng tao đã quen sống đời gian khổ,
Như những người cùng cảnh ngộ quanh tao.
Đừng hỏi tao chuyện mong muốn ước ao,
Tao lết được bữa nào hay bữa nấy.

Tuy nhiên nếu mày chí tình muốn vậy,
Tao đành xin tạm quấy quá đôi lời,
Dẫu biết rằng chỉ nói để mà chơi,
Còn triển vọng, có chăng Trời mới biết.

Điều tao muốn cũng là điều dân Việt
Bấy lâu nay vẫn tha thiết mong cầu,
Kể từ khi tai ách giáng lên đầu,
Cả đất nước chìm sâu trong khổ hạn.
*
*     *
Tao muốn thấy lũ cầm quyền khốn nạn
Cùng tập đoàn Cộng sản chóng tiêu tan.
Chỉ thế này thì dân tộc Việt Nam
Mới cứu được giang san từ tay Chệt.

Tao không muốn người mang dòng máu Việt,
Khi đi xa bị khinh miệt coi thường,
Cũng chỉ vì thói trộm cắp bất lương,
Sau mấy chục năm trường quen gian dối.

Tao không muốn phải đau lòng mà nói,
Dân mình không còn biết tới lương tri,
Sống tham lam, xảo trá với bất nghì,
Nhác thấy lợi, hè thi nhau giành giật.

Tao không muốn thấy người dân chân chất,
Bị bạo quyền cướp mất chỗ dung thân,
Từ quê xa lê lết đến mòn chân,
Lầm hy vọng nhờ ác nhân phân xử.

Tao không muốn thấy hàng ngàn thiếu nữ,
Tuổi thanh xuân vừa nở nụ đơm hoa,
Phải bán thân làm nô lệ phương xa,
Để cứu vớt cả nhà đang đói rách.

Tao không muốn trẻ thơ còn cắp sách,
Phải ranh ma luồn lách tựa yêu tinh,
Xoay từng trăm từng chục giúp gia đình,
Mũi chưa sạch đà linh đinh khó nhọc.

Tao không muốn nơi Trung và Đại học,
Chỉ thấy toàn lừa lọc với hư danh,
Bằng cấp ma, chẳng mấy kẻ học hành,
Thầy bà cũng gian manh đồng một hạng.

Tao không muốn nhìn thanh niên trai tráng,
Chốn trà đình tửu quán rúc triền miên,
Chẳng biết gì đến công sức tổ tiên,
Hoặc lo lắng cho tiền đồ đất mẹ.

Tao không muốn thấy người già rơi lệ,
Trên vỉa hè ngồi kể lể kiếm ăn.
Xiết bao nỗi nhọc nhằn
Đang chồng chất lên tấm thân hành khất.

Tao không muốn dân mình mang ác tật,
Vì quanh năm nhiễm độc chất của Tàu,
Để rồi chẳng trước thì sau,
Đường thiên cổ dìu nhau đi lũ lượt.

Tao không muốn nhìn những người yêu nước,
Bị bắt giam, bị tước đoạt nhân quyền,
Bị đồng bào cùng thế giới bỏ quên,
Trong ngục tối ngày đêm ôm uất hận.

Tao mong ước thấy toàn dân nổi giận,
Trẻ dẫn đầu, già chầm chậm theo chân,
Cờ Vàng bay khắp các nẻo xa gần,
Quét sạch hết bầy sát nhân vô loại.
*
*     *
Mày chắc nghĩ ước mơ tao rồ dại,
E rằng Trời nghe cũng phải bó tay,
Nên tao xin mày chỉ một điều này,
Dù biết nó sẽ làm mày khóc dở.

Ngày Quốc Hận, tao muốn mày phải nhớ,
Đừng bày trò, viện cớ để ăn chơi,
Ngày đau buồn của dân Việt nơi nơi,
Không phải dịp để vui cười, buôn bán.

Mày vượt biển, trốn bạo quyền Cộng sản,
Thì đừng quên gốc tỵ nạn của mày,
Đừng quay về hưởng thụ với múa may,
Khi đất nước còn trong tay giặc Đỏ.

Quốc Hận luôn còn đó,
Dù lòng người theo gió đổi thay.

Trần Văn Lương
Cali, mùa Quốc Hận 2017

17156009_682357281943189_5500983743920307240_n

Từ ngày tháng ba gãy súng đến ngày quốc hận 30.4, 
xin hãy để tang cho những hương linh vị quốc vong thân 
và nạn nhân chiến cuộc Việt Nam Cộng Hòa.

Lê Ngọc Túy Hương


Histoire : Diễn tiến những ngày mất nước 30/4/1975.

Publié le 18 avril 2006 par laure nguyen duy

(Viết theo Nam Nguyên Phương Anh – Nguyễn An – vn đi tới , Một thời Phan-châu Trinh Đà nẵng

 

Cách đây 30 năm, ngày 30 tháng Tư năm 1975, cuộc chiến tranh VN kéo dài 21 năm đã kết thúc, hai triệu người ở cả hai miền Nam Bắc thiệt mạng.

 

Để đánh dấu tam thập niên ngày kết thúc cúa cuộc chiến tranh đẩm máu quốc cọng, chúng tôi xin nhắt lại cuộc diễn tiến lịch sử trong tuần lễ cuối cùng của thánh tư đen 30/04/75.

 Ngày 6/1/75 – Trong một trận mất thảm hại cho Việt Nam Cọng Hoà, quân miền Bắc tấn công, chiếm đươc Phước Bình, Phước Long và vùng phụ cận. Cuộc tấn công này vi phạm trắng trợn hiệp định Ba Lê, nhưng Hoa Kỳ không trã đũa. Những hy vọng pháo đài B-52 dội bom quân Cọng Sản xâm lược, cũng như Hoa Kỳ tăng viện trợ không còn nữa.

Ngày 11/3/75 – Quân đội hùng hậu miền Bắc tổng tấn công miền Trung Việt Nam gây thiệt hại nặng nề cho Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà.
Ban Mê Thuột, thị trấn Darlac vùng Cao Nguyên Trung Phần bị mất.

Ông Nguyễn văn Thiệu, Tổng Thống lúc bấy giờ quyết định rút quân bỏ Plieku và Kontum. Ông Thiệu quyết định thay đổi chiến lược “cắt đất, chia bớt dân cho Cọng Sản”. Chiến lược mới này ông Thiệu gọi là “Chiến lược đầu bé đít to”.  Việt Nam Cọng Hoà sẽ bỏ những vùng núi it dân, rút về phòng thủ những vùng trù phú, đông dân. “Ðầu bé” bao gồm Cao Nguyên , Quảng Trị, Thừa Thiên; “Ðít to” gồm đồng bằng sông cửu Long và Duyên Hải.


Ngày 17/3/75 – Cuộc rút bỏ Cao Nguyên khởi sự từ ngày 17-3-1975 gây hoang mang, xáo trộn khắp nơi. Binh sĩ Việt Nam Cọng Hoà tháo lui trong hỗn loạn, 60 ngàn người chết hoặc mất tích.
“Cuộc triệt thoái Cao Nguyên là một quyết định chiến lược sai lầm của tập đoàn lãnh đạo đất nước và chỉ huy Quân Ðội, đưa đến sự sụp đổ tinh thần, làm tan rã Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà và mất nước. Một cuộc hành quân triệt thoái với những bi thảm, kinh hoàng và thiệt hại lớn lao nhất trong lịch sữ chiến tranh Việt Nam” (Phạm Huân – “Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975”).

Tháng 3/75 – Quân đội miền Bắc đem 100 ngàn quân bao vây các tỉnh Quảng Trị, Huế và Ðà Nẵng. Với thiết giáp và tám sư đoàn pháo binh họ lẹ làng chiếm được tỉnh Quảng Trị.

Ngày 17/3/75 – Huế, trung tâm văn hoá, thành phố lớn nhất thứ ba của Việt Nam Cọng Hoà rơi vào tay quân đội miền Bắc. Sau đó là Ðà Năng, thành phố lớn thứ nhì cuả miền Nam. Xuân Lộc, thị trấn Long Khánh rơi vào tay quân miền Bắc.

 



Đầu tháng Tư 75 – Trong vòng năm tuần lễ quân đội miền Bắc đã chiếm được mười hai quận, kiểm soát tám triệu dân. Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà, mất đi những sư đoàn thiện chiến nhất, hơn một phần ba binh sĩ và một nửa vũ khí.



Ngày 8/4/1975 – Nguyễn Thành Trung đem báy bay thả bom dinh Ðộc Lập. Trước nguy cơ mất nước, các giới lãnh đạo chính trị, tôn giáo, và các đoàn thể yêu cầu Ông Thiệu từ chức. Tin đồn có hai cuộc đảo chánh hụt đã xảy ra.

 

Ngày 21/4/1975  – TT Nguyễn Văn Thiệu chịu áp lực từ nhiều phía và quyết định từ chức. Ông nói: “Thưa đồng bào anh chị em chiến sĩ cán bộ các cấp, tôi tuyên bố từ chức tổng thống và theo hiến pháp phó tổng thống Trần Văn Hương sẽ đảm nhận chức tổng thống.”

Khi nhà giáo Trần Văn Hương lên nắm giềng mối quốc gia, thì lúc đó 6 sư đoàn quân cộng sản Bắc Việt đang khép chặt vòng vây thủ đô Saigon, nơi có 3 triệu người sinh sống.

Ngày 24/4/1975 – Dự đoán sự sụp đổ của Việt Nam Cọng Hoà, Tổng Thống Hoa K ỳ, Gerald Ford, thông báo tại New Orleans, là đối với Hoa K ỳ, cuộc chiến Việt Nam đã “kết thúc”.

Ngày 25/4/1975 – Ông Nguyễn văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm  và đoàn tùy tùng đáp chuyến bay đặc biệt đi Ðài Loan.

Ngày 26/4/1975 – Nhận nhiệm vụ được 5 ngày, tới ngày 26/4 Ông Trần Văn Hương yêu cầu quốc hội tìm người thay thế mình, một người mà theo ông có đủ khả năng tìm giải pháp vãn hồi hoà bình hoà giải dân tộc.

Quốc hội ra nghị quyết chỉ định đại tướng Dương Văn Minh vào chức vụ tổng thống.

Ngày 28/4/1975 – Quân miền đã tiến đến gần ngoại ô Saigòn. Các nhà lãnh đạo Việt Nam Cọng Hoà, vội vã đưa tướng Dương văn Minh lên thay Tổng Thống Trần văn Hương để kết thúc chiến tranh theo các điều kiện cuả miền Bắc đòi hỏi. Trong bài diễn văn nhậm chức, Ông Minh keu gọi “người anh em phiá bên kia, Chính Phủ Lâm Th ời Miền Nam Việt Nam ” hãy tham gia cuộc hưu chiến và hoà đàm cho một giải pháp chấm dứt cuộc chiến.

Chiều ngày 28/4/1975 Lễ Bàn Giao giữa hai ông Trần Văn Hương và Dương Văn Minh được tổ chức tại Dinh Độc Lập.

Lời tổng thống Hương liên tục với tường thuật của phóng viên: “ …Làm thế nào cho dân được sống yên…làm thế nào cho máu đừng đổ thịt đừng rơi thì công của đại tướng đối với hậu thế sẽ lưu lại đời đời, dầu thế nào tôi thiết nghĩ đất nước này không bao giờ quên công lao đó của đại tướng….(vỗ tay)….(tường thuật)

Sau khi nguyên tổng thống Trần Văn Hương đọc xong bài diễn văn trao nhiệm, chúng tôi nhận thấy một sĩ quan đã gỡ huy hiệu tổng thống hai con rồng bay xuống…và thay thế bằng một huy hiệu tổng thống mới…với hình một hoa mai năm cánh…

Đây là phóng viên Hệ Thống Truyền Thanh VN, quí thính giả đang theo dõi trực tiếp truyền thanh lễ trao nhiệm chức tổng thống VNCH giữa ông Trần Văn Hương và cựu đại tướng Dương Văn Minh …

Lúc này bên ngoài dinh Độc lập chúng tôi nhận thấy trời đã bắt đầu mưa nhỏ và Saigon đang trải qua một buổi chiều u ám như hoàn cảnh hiện tại của đất nước…”

Cho đến 30 năm sau, vẫn chưa có lời giải đáp là tại sao Nam Việt Nam lại tan rã nhanh chóng như vậy. Tuy nhiên theo nhiều nhà phân tích thời cuộc, thì kể từ lúc tổng thống Thiệu từ chức ngày 21/4 và vội vã ra đi 2 ngày sau đó, sự kiện chế độ VNCH cáo chung chỉ còn là vấn đề thủ tục.

Ngày 29/4/1975 – Trực thăng Thủy quân lục chiến và của không quân Hoa K ỳ, bay từ các chiến hạm ngoài khơi, không vận một ngàn người Mỹ và hơn năm ngàn người Việt tị nạn ra khỏi Saigòn, trong vòng 18 tiếng đồng hồ.

Trực thăng Quân Lực Việt Nam Cọng Hòa tản mát bay đậu trên các chiến hạm Hoa K ỳ. Những trực thăng này phải vứt xuống biển, nhường chỗ đậu cho những chiếc kế tiếp.
Tướng Không Quân Nguyễn Cao Kỳ đáp trực thăng xuống chiến hạm USS Midway và sau đó chuyển sang chiến hạm Blue Ridge.

Ngày 30/4/1975 10 giờ sáng  – Đại Tướng Dương Văn Minh được xem là người thích hợp nhất để nhận trách nhiệm ra lệnh đầu hàng. Mời quí vị nghe lại tuyên bố của tổng thống Dương Văn Minh được phát đi trên Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia vào lúc 10 giờ sáng ngày 30/4/1975:

“ Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hoà giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam…vì lẽ đó tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ VNCH hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu ở đó.  

Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng, vì chúng tôi ở đây chờ gặp chính phủ CMLTCHMNVN để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự…tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào…”

Sau khi Đài Phát Thanh Saigon lập lại nhiều lần lệnh buông súng của Tổng thống Dương Văn Minh , cũng như nhật lệnh tương tự của thiếu tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người được bổ nhiệm làm phụ tá cho tổng tham mưu trưởng sau cùng là Trung Tư ớng Vĩnh Lộc. Quân đội đã thi hành lệnh giao nạp vũ khí cho những người chủ mới của đất nước.

Ngày 30/4/1975 10 giờ 45 sáng  – Xe Tăng Cộng Sản Bắc Việt tiến vào khuôn viên Dinh Độc Lập lúc 10g45 phút sáng ngày 30/4, đánh dấu sự cáo chung của chế độ VNCH. Một chế độ được xây dựng bởi những người không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản. Chế độ ấy trải qua hai nền cộng hoà tồn tại được 21 năm.

Cuộc chiến quốc cộng huynh đệ tương tàn làm thiệt mạng hơn hai triệu người Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc. Phía đồng minh của VNCH, 58 ngàn quân nhân Mỹ tử trận cùng hàng ngàn binh sĩ của các nước Nam Hàn, Thái Lan, Úc và Tân Tây Lan.

Ðại Sứ Martin không muốn rời Việt Nam, vì ông ta muốn kéo dài thì giờ để có thể cứu thêm những người khác. Cuối cùng, chúng tôi phải chỉ thị bắt ông đại sứ phải rời nhiệm sở. Ông đại sứ Martin nói chuyện với chúng tôi và tôi còn nhớ là ông ta bảo là sẽ lên sân thượng của Toà Ðại Sứ, dùng trực thăng để ra hạm đội, và chúng tôi nói lời từ giã với nhau.

Không đầy một giờ đồng hồ sau đó, đại sứ Martin gọi điện lại báo đã ra tới hạm đội bình yên.
Hậu quả – Chiến tranh Việt Nam chấm dứt sau 15 năm đẫm máu. Hơn một triệu binh sĩ miền Nam lẫn miền Bắc tử trận, hàng ngàn thường dân bị chết.

Các binh sĩ Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà, công chức kẹt lại bị gọi đi tập trung lao động cải tạo ở các trại rải từ Phú Quốc, Cà Mau đến Lào Cay tận biên giới Trung Quốc.



Cuộc di tản bằng thuyền để trốn chế độ Cọng Sản bắt đầu.

Sau 1975, số lượng người Việt đã bỏ xác trên biển Đông, trong tay hải tặc suốt 22 năm từ 1975 đến 1997 khi các trại tỵ nạn chính thức đóng cửa, lần nữa, cũng chẳng thể nào thống kê được. Những trại tỵ nạn Camp Pendleton, Leamsing, Palawan, Pulau Bidong, Sungai Besi, Bataan, White Head, Panat Nikhom, Galang,… sau những chuyến hải hành vô định trên biển Đông trùng trùng gió bão trong đói khát, lo âu.Bà mẹ quỳ lạy những tên hải tặc để xin tha cho đứa con gái chỉ mười lăm tuổi ốm o bịnh hoạn của bà. Nước mắt và những lời van xin của mẹ không lay động tâm hồn của những con người không còn một chút lương tri. Tiếng niệm Phật, lời cầu kinh không ai nghe. Không có Chúa và không có Phật, ở đó, trên bãi san hô của đảo Koh Kra, phía nam vịnh Thái Lan, chỉ có những thân thể trần truồng, máu me nhầy nhụa, chỉ có tiếng rên của những con chim nhỏ Việt Nam bất hạnh và giọng cười man rợ của bầy ác điểu Thái Lan. Chúng ta có thể từng nghe kể lại những chuyến vượt biển hãi hùng, những cái chết thương tâm, tuy nhiên những cảnh hãi hùng và thương tâm nhiều lần hơn như thế sẽ không bao giờ nghe được, đơn giản vì chẳng còn ai để kể.

 

30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu một thảm cảnh của dân tộc Việt Nam, ngày mà cán binh cộng sản xâm chiếm nước Việt Nam Cộng Hoà. Đảng CS  đã áp đặt lên dân tộc Việt một thể chế ngoại lai, man di mọi rợ : vô gia đình, vô tôn giáo, vô tổ quốc. 

Nước Việt rơi vào chế độ độc tài và độc đảng. Quyền dân bị tịch thâu bở đáng CS. Kinh tế và giáo dục bị kiềm chế. Tư do bị xáo bỏ. Cho đến bao giờ ???

tiengnacdemtrutich

Dạo:
Nhởn nhơ áo Tết về quê,
Biết chăng dân Việt trăm bề đớn đau.

Tiếng Nấc Đêm Trừ Tịch

Đêm trừ tịch, gian phòng lạnh ngắt,
Người đàn bà cúi mặt trầm ngâm.
Nghẹn ngào tủi phận thương thân,
Có chồng mà phải đón Xuân một mình.

Rồi khẽ nhấc bức hình trên kệ,
Ngắm hai người son trẻ năm nao,
Mà nghe thất vọng dâng trào,
Hùa theo tiếng nấc, lệ dào như mưa.
*
*     *
Anh yêu hỡi, giao thừa đã đến,
Lệ em cùng lệ nến tuôn rơi.
Anh về quê mẹ vui chơi,
Tha hương em xé lịch vơi một mình.

Anh giờ chắc lềnh bềnh tửu quán,
Phè phỡn cùng đám bạn mềm môi,
Chén anh, chén chú, chén tôi,
Quên phăng cái thuở xa xôi nhọc nhằn.

Anh có nhớ những năm tù ngục,
Giặc đem anh lăng nhục từng ngày?
Bạn anh, chúng giết thẳng tay,
Anh may sống sót lất lây nhờ Trời.

Anh có nhớ quãng đời vất vả,
Sau khi anh được thả về nhà?
Chạy ăn từng bữa xót xa,
Trẻ con đói rách, người già điêu linh.

Anh có nhớ công trình vượt biển,
Bị mắc lừa mấy chuyến mới xong?
Nhìn dân mình chết biển Đông,
Có là gỗ đá mới không đau sầu.

Anh có nhớ buổi đầu trong trại,
Trơ mắt nhìn lũ Thái hung hăng?
Bị hành, chẳng dám nói năng,
Âm thầm chỉ biết cắn răng sượng sùng.

Anh có nhớ khai cùng Di Trú,
Vì sao lìa quê cũ sang đây?
Mà nay dạ đổi lòng thay,
Đang tâm trở mặt quên ngay lời thề.

Anh kiếm cớ đi về lắm bận,
Dựng chiêu bài quanh quẩn ăn chơi,
Lúc thì “từ thiện” giúp đời,
Lúc thì “báo hiếu” cho người thân yêu!

Trở lại Mỹ, sớm chiều “hát dạo”,
Thay kẻ thù quảng cáo liên miên,
Rằng quê mình rất bình yên,
Rằng dân mình sống ấm êm trăm bề.
*
*     *
Anh có biết anh về sung sướng,
Vung tiền còm thụ hưởng tiện nghi,
Trong khi dân phải ra đi
Làm thân nô lệ cu li nước ngoài?

Anh chỉ thấy đền đài tráng lệ,
Cùng quán hàng lắm kẻ vào ra,
Mà không thấy cảnh dân ta,
Ngày đêm khổ ải xót xa muộn phiền.

Anh chỉ thấy bạo quyền hùng hổ,
Ra oai hùm nạt nộ múa may,
Mà không mở mắt để hay,
Chủ quyền toàn ở trong tay giặc Tàu.

Anh có thấy đâu đâu cũng Chệt,
Đang nghênh ngang chiếm hết quê mình?
Phần do lũ thú Ba Đình,
Phần do những kẻ vô tình như anh.

Anh chỉ thấy bầy doanh nhân Việt,
Cùng anh về yến tiệc hả hê,
Mà không thấy ở bên lề
Những đồng đội cũ đang lê thân tàn.

Anh có thấy trại giam khắp chốn,
Nơi công an làm khốn bao người?
Vì lòng yêu nước không nguôi,
Họ cam tâm gánh cả trời khổ đau.

Chồng em hỡi, từ lâu em gắng,
Tránh buông lời nói nặng cùng anh.
Nhưng nay gương đã tan tành,
Chút duyên chồng vợ, em đành xin quên.

Em cương quyết làm viên ngọc vỡ,
Theo sao trời rực rỡ đêm đêm,
Còn hơn làm phiến ngói nguyên,
Quanh năm xám xịt ngơi trên mái nhà.
*
*     *
Sau tiếng nấc, mắt già chợt quắc,
Người mím môi dập tắt cơn sầu,
Lạnh lùng gói lại buồn đau,
Cầm như mình đã từ lâu góa chồng.

Le lói bên song
Tia nắng hồng năm mới.

Trần Văn Lương
Cali, 1/2017

xuan-dinh-dau-lnth

qh2016

Tháng Tư, tháng QUỐC TANG của con dân Việt Nam Cộng Hoà.
Thành kính tưởng niệm chư anh linh tất cả
QUÂN DÂN CÁN CHÍNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ
vị quốc vong thân.

Triệt để không giao dịch, tiếp tay hay làm bất kỳ điều gì có lợi
cho cộng sản Việt Nam, việt cộng, việt gian.
DIỆT CỘNG LÀ YÊU NƯỚC.

 

Lê Ngọc Tuý Hương

ddbv1

Dạo:
Giặc còn tàn hại non sông,
Thì dù xương trắng vẫn không chịu về.

Đừng Đem Bố Về

(Dựa trên lời một vị lính già dặn dò con trai mình trước khi ông mất:
– Chỉ khi nào nước mình hết Cộng sản thì con mới đem tro của Bố về quê chôn cạnh Ông Bà Nội)

Con ơi hãy lắng nghe lời Bố dặn,
Sau khi mà Bố nhắm mắt xuôi tay,
Nhúm tro tàn, hãy tạm để nơi đây,
Đừng có vội đem ngay về chốn cũ.

Bố chỉ sợ con nghe người ta dụ,
Theo kết bè kết lũ để “thăm quê”,
Rồi tiện tay mang tro Bố trở về,
Để Bố lỗi lời thề khi bỏ xứ.

Nơi cắt rốn, ai mà không thương nhớ,
Ai không hề trăn trở bước lưu vong.
Nhưng con ơi, phải nghĩ đến non sông,
Đang đau đớn chờ mong ngày giải thoát.

Tháng Tư đó, quê hương mình tan nát,
Bao nhiêu người gạt nước mắt ra đi.
Lòng dặn lòng, trong giây phút phân ly,
Còn giặc Cộng, quyết thề không trở lại.

Lời khấn nguyện, Bố hằng ghi nhớ mãi,
Và dẫu lòng luôn khắc khoải xót xa,
Bố quyết tâm không phản bội quê nhà,
Dù khi đã hóa ra người thiên cổ.
*
*     *
Về sao được khi quê cha đất tổ,
Còn trong tay đám hổ báo sài lang
Đang đê hèn làm nô lệ ngoại bang,
Nhưng độc ác hung tàn cùng dân Việt.

Làm sao Bố yên tâm dù đã chết,
Khi dân Nam vẫn rên siết trong tù,
Từ học trò, tu sĩ đến nông phu,
Chỉ vì “tội” chống kẻ thù xâm lược.

Vong hồn Bố làm sao siêu thoát được,
Khi đau lòng nhìn đất nước thân yêu,
Bỗng trở nên, trong một sớm một chiều,
Nơi sản xuất rặt những điều tồi tệ.

Xã hội đã suy đồi từ gốc rễ,
Già lưu manh, đến trẻ cũng lưu manh,
Người với nhau chỉ lừa đảo tranh giành,
Cả đất nước biến thành hang trộm cướp.

Dù kẻ khác về ăn chơi nườm nượp,
Nhưng mình không làm thế được, con ơi.
Nhìn khắp nơi tội ác vẫn ngập trời,
Ai là kẻ không bồi hồi phẫn chí.

Làm sao mà an nghỉ,
Khi mộ phần bao chiến sĩ miền Nam
Bị bọn cầm quyền độc ác gian tham,
Muốn cướp đất, đã san thành bình địa.

Nỗi đau càng thấm thía,
Khi thấy người chạy mất vía năm nao,
Nay trở về thật diêm dúa bảnh bao,
Cùng nhăn nhở, ồn ào nâng chén cạn.

Làm sao mà thanh thản,
Khi phải nhìn đứa bạn ngày xưa,
Nạng gỗ mòn, ống quần rỗng đong đưa,
Khay vé số dầm nắng mưa kiếm sống.

Làm sao không tuyệt vọng,
Khi chung quanh tràn ngập bóng quân thù,
Ngoan ngoãn tuân theo lệnh của Tàu phù,
Hung hăng gác căn nhà tù vĩ đại.

Làm sao không tê tái,
Khi dân mình cứ mãi gánh khổ đau.
Và dù cho ở tận đáy mộ sâu,
Người chết cũng phải gục đầu than khóc.

Chỉ đem Bố trở về khi dân tộc
Có nhân quyền và độc lập tự do,
Người người đều được áo ấm cơm no,
Không còn bị loài Cộng nô thống trị.

Con hãy nhớ những lời này thật kỹ:
Bao lâu bầy Cộng phỉ vẫn thong dong,
Gót chân Tàu còn giẫm nát non sông,
Thì mình vẫn quyết một lòng son sắt.

Con ơi nếu Trời xanh kia quá quắt,
Bắt dân mình vĩnh viễn mất quê hương,
Thì chút tro tàn của kiếp tha phương,
Đổ giùm Bố, đừng tiếc thương giữ lại.
*
*     *
Mộng cứu nước bao năm rồi chưa toại,
Lối quay về, ngàn quan ải cách ngăn.
Trong đêm đen, đôi khóe mắt nhọc nhằn,
Nỗi đau đớn thầm lăn trên má lạnh.

Trần Văn Lương
Cali, Quốc Hận 2016

qh2016

Tháng Tư, tháng QUỐC TANG của con dân Việt Nam Cộng Hoà.
Thành kính tưởng niệm chư anh linh tất cả
QUÂN DÂN CÁN CHÍNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ
vị quốc vong thân.

Triệt để không giao dịch, tiếp tay hay làm bất kỳ điều gì có lợi
cho cộng sản Việt Nam, việt cộng, việt gian.
DIỆT CỘNG LÀ YÊU NƯỚC.

Lê Ngọc Tuý Hương

Nhanketroco

Dạo:
Quê hương mất, cửa nhà tan,
Sao còn theo lũ tham tàn hại dân.

Nhắn Kẻ Trở Cờ

Hỡi người bạn trở cờ theo lũ giặc
Đang nắm quyền sinh sát ở quê tôi,
Đừng chỉ vì chút canh cặn cơm ôi,
Mà thay chúng nói rặt lời dối trá.

Chúng luôn mồm ra rả,
Đánh lừa thiên hạ khắp nơi.
Và chẳng may, đâu đâu cũng có người,
Vẫn nhẹ dạ tin trò chơi bịp bợm.

Này bạn hỡi, đừng đem lời chúng mớm,
Để qua đây luôn sớm tối kêu gào.
Bạn giết người mà chẳng dụng gươm dao,
Khi theo chúng rêu rao điều gian dối.

Đừng dẫn chứng đám cò mồi múa rối,
Bọn thầy tu giả mạo mới ra lò,
Rồi phùng mang trợn mắt hót líu lo,
Rằng đất nước có tự do tôn giáo.

Chúng tóm kẻ chức quyền cao trong đạo,
Cho xênh xang áo mão để reo hò,
Để thổi phồng chiếc bánh vẽ “xin cho”,
Hoặc trình diễn lắm trò hề tương tự.

Chúng bắt chẹt tình cảm người xa xứ,
Dụ họ về bằng hai chữ “quê hương”,
Bằng những câu giả dối ngọt như đường,
Bằng hình ảnh của “vườn” kia “trái” nọ.

Rồi hốt trọn bầy “cá hồi” vô rọ,
Vắt cạn tiền, xong vất bỏ thẳng tay.
Chuyện sờ sờ trước mắt chẳng chịu hay,
Sao bạn vẫn luôn cối chày ngụy biện?

Đừng núp bóng dưới chiêu bài “từ thiện”,
Miệng oang oang toàn nói chuyện thương người,
Nhưng thực ra là về để ăn chơi,
Cùng đóng kịch mong được đời ca ngợi.

Đừng lợi dụng chuyện thiên tai lụt lội,
Để làm giàu trên nỗi khổ của dân.
Thiên hạ ai cũng biết rõ trăm phần,
Mà sao bạn vẫn trần thân lải nhải?

Đừng ong óng toàn những câu nhai lại,
Nào ” giao lưu”, nào “hòa giải”, “thứ tha”.
Sao bạn không dám bảo bọn tà ma,
Ngưng bách hại người sa cơ thất thế?

Đừng trâng tráo nói “không làm chính trị”,
Khi chính mình xin tỵ nạn nơi đây,
Khóc sụt sùi khai với Mỹ, với Tây,
Vì sao phải đắng cay rời quê cũ.
*
*     *
Thân nhược tiểu, mong manh quyền tự chủ,
Bị “đồng minh” bán cho lũ sài lang.
Nên chúng tôi phải đau đớn tan hàng,
Chua xót đứng nhìn giang san tơi tả.

Vì lương thiện, chúng tôi đà trả giá,
Bằng khăn tang của cả triệu người thân,
Bằng những dòng lệ ngập mắt cá chân,
Bằng sinh mạng ngàn quân dân cán chính.

Vì tưởng chúng còn mảy may nhân tính,
Nên bao người đã dính phải tai ương,
Kẻ bỏ mình trong núi thẳm mù sương,
Kẻ giũ kiếp giữa trùng dương sóng gió.

Cũng vì bởi những người như bạn đó,
Mà quê ta, giặc đỏ vẫn cầm quyền,
Sống giàu sang, phung phí những đồng tiền
Từ xa trút liên miên về chốn cũ.

Bạn hỡi bạn, sao đang tâm hưởng thụ,
Trên vết thương đầy máu mủ dân mình,
A tòng theo bọn bán nước cầu vinh,
Để tiếp tục làm điêu linh đất tổ.

Dân tộc Việt chỉ hoàn toàn hết khổ,
Khi lũ này không còn chỗ dung thân,
Khi Cờ Vàng phất phới giữa trời xuân
Theo nhịp bước đoàn quân Nam anh dũng.
*
*     *
Bốn mươi mấy năm từ khi buông súng,
Quá khứ buồn giờ chắc cũng phôi pha.
Bao triệu người, còn mấy kẻ xót xa,
Khi nhớ đến một quê nhà đã mất.

Trần Văn Lương
Cali, đầu mùa Quốc Hận
4/2016

Binh Than TH al

Tag Cloud