VIỆT NAM CỘNG HÒA

1.
Tuổi già hay nhớ những chuyện xưa. Lúc mẹ tôi còn sống, trong các bữa ăn, bà thường hay nhắc lại cuộc sống của mình thưở nhỏ. Là một cô con gái nhà quê, ngoài chuyện đồng áng là chuyện chánh, mẹ tôi còn lo trong ngoài cho ông bà Ngoại vì các chị lớn đi lấy chồng ở xa. Từ những câu chuyện đó, tôi hiểu thêm về quê ngoại, về chuyện đồng quê miền Nam. Vợ chồng tôi vốn sanh trưởng nơi thành thị, những mẩu chuyện đời xưa ấy của mẹ tôi vô cùng hấp dẫn với chúng tôi. Dầu gì cáí gốc ông bà đã là máu luân lưu trong cơ thể. Nguồn cội của mình, làm sao lại không thấy gần gũi, thấy nhớ, thấy thương? Huống chi lại đang sống nơi xứ lạ quê người (cho dù bây giờ thì đất nước tạm dung này cũng đang dần dà trở thành quê hương thứ hai của chúng tôi).

Từ thói quen đó, bây giờ vợ chồng tôi cũng hay kể về thời niên thiếu cho con cái nghe, hay cho nhau nghe bên mâm cơm chiều. Con tôi nhờ đó, học và hiểu nhiều về quê hương Việt Nam: về đời sống, phong tục, sinh hoạt của người Việt, của chính ông bà cha mẹ mình; về những khổ đau, gian nan của dân tộc, của ông bà cha mẹ mình trong suốt thời gian chiến tranh; về những u uẩn, gian khổ, tù đày, tủi nhục của Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa sau ngày 30.4.1975 mất nước; về sự thật của bộ mặt gian xảo, độc ác của cộng sản Việt Nam.Đó chính là sự giáo dục để con tôi không quên nguồn cội, hiểu rõ vì sao ông bà cha mẹ mình phải sống ly hương, có thể hiểu biết đúng đắn về cuộc chiến Quốc Cộng tại Việt Nam như chính cha mẹ mình đã hiểu và luôn giữ vững lằn ranh Quốc Cộng thật rõ ràng. Lá cờ thiêng liêng màu vàng với ba sọc đỏ phải luôn luôn được tôn trọng và bảo vệ như tổ tiên mình đã làm.

2.
Thế hệ ông cha làm sai, làm mất nước đưa tới cảnh lưu vong của người Việt Nam ?

Chúng tôi thay nhau miên man kể, từ chuyện nhà lan dần sang trường học… dẫn miết đi luôn tới chuyện quốc gia. Những hình ảnh đau thương của trận Mậu Thân năm 1968 tại Sàigòn, Huế được nhắc lại trong bùi ngùi. Những hố chôn người tập thể tại Huế có bao giờ phai nhòa trong tâm khảm chúng tôi, dù rằng chúng tôi ở Sàigòn và chỉ được xem các hình ảnh trắng đen của đài truyền hình Việt Nam băng tần số 9 thời đó.

Nhớ lại những đêm đang ngủ phải choàng dậy, vội vàng chui xuống gầm giường trốn lánh những quả hỏa tiễn của Việt cộng pháo kích xối xả vào khu dân cư. (trốn cho yên lòng chứ có hiệu quả gì đâu?)

Cũng không quên cảnh thịt da tan nát, thân xác vung vãi tứ bề của dân vô tội, kết quả hành động tàn ác của bọn khủng bố nằm vùng đặt mìn, ném lựu đạn trong các rạp hát hay nơi công cộng.

Biết bao nhiêu tang thương, biết bao nhiêu thống khổ mà người dân miền Nam phải hứng chịu do sự xâm lăng tham lam chiếm đoạt của bọn giặc Hồ.

Nói đến cuộc chiến tự vệ chống lại bọn cộng sản xâm lăng miền Nam, không sao không khỏi nhắc tới ơn nghĩa của những người lính Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi luôn tâm niệm, không có sự hy sinh của họ, chúng tôi không thể có cuộc sống an nhàn hôm nay. Vì sao? Vì họ đã xả thân chiến đấu ngoài tiền tuyến, bảo vệ cho hậu phương người ngườì có cuộc sống an ổn, học hành (và … ăn chơi!). Họ đã chiến đấu anh dũng chống lại bọn cộng sản xâm lăng miền Bắc. Tôi đã từng chứng kiến và cũng từng là chứng nhân của rất nhiều thảm cảnh như goá phụ trẻ mang thai nức nở bên áo quan chồng; người chờ khăn cướí lại nhận khăn tang; bạn học tôi đi nhập ngũ theo luật động viên và chỉ sau vàì tháng ngắn ngủi thì gia đình lãnh tiền tử v.v…

Chúng tôi nhắc với nhau vể những kỷ niệm vui buồn lẫn lộn đó mà thương nhớ và ngậm ngùi cho quê hương và dân tộc mình.

Phải là người máu lạnh mới phủ nhận công ơn hãn mã của người lính Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến tự vệ, bảo vệ quê hương độc lập, tự do, chống lại bọn cộng sản xâm lăng miền Bắc.

Làm sao có thể vong ơn bội nghĩa, bôi nhọ công ơn của họ?

Có nhìn thấy chưa cảnh chiến đấu tới viên đạn cuối cùng của người lính BĐQ trên cầu Sàigon trưa ngày 30.4.1975?

Có nghe chăng tiếng hát quốc ca hào hùng bi thiết của thiếu sinh quân Vũng Tàu trong buổi lễ chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa lần cuối cùng?

Có nhìn thấy những viên đạn tuẫn tiết của bao anh hùng quân lực Việt Nam Cộng Hòa, thà chết không đầu hàng cộng sản?

Sao lại có thể buông lời ác độc phỉ báng và kết tội thế hệ ông cha làm sai, làm mất nước đưa tới cảnh lưu vong của người Việt Nam, của các thế hệ con cháu Việt Nam?

Buộc tội phải nêu rõ “tội danh” , phải chưng bằng cớ và phải cho “bị cáo” phản biện. Thế hệ trước đã làm sai những gì đến độ thế hệ sau phải lưu vong?

(Trích thư cô Nancy Nguyễn : … Con xin lỗi phải nói lời rất đau lòng này: cái hoạ mất nước có phải là do chúng con? Tại sao thế hệ đi trước được quyền sai đến độ chúng con phải lưu vong, nhưng lại tước đi cái quyền được sai của thế thệ chúng con?

Thư Cuối Gởi Cô Chú Bác Của Con – Nancy Nguyễn, 26/9/2017 – 11:54PM)

3.
Cuộc chiến tranh Việt Nam có phải là cuộc nội chiến?

Dân Quân Cán Chính miền Nam Việt Nam, bị đặt trong một tình thế tự vệ, phải chiến đấu xua đuổi bọn xâm lăng miền Bắc. Chúng nóí “na ná” tiếng mình nhưng chúng không là đồng bào mình. Chúng tàn ác xua quân xâm chiếm đất nước mình. Chúng đã giết đồng bào mình không chút gớm tay. Cuộc chiến tự vệ đó là một cuộc chiến chống bọn xâm lăng miền Bắc. Trận chiến Cộng sản và Quốc Gia tại Việt Nam KHÔNG PHẢI là CUỘC NỘi CHIẾN.

Chiến tranh là đi đôi với tàn nhẫn. Tại sao chỉ nói đến “tội ác ” của kẻ tự vệ là miền Nam mà lại khỏa lấp, thản nhiên làm ngơ trước những hành động dã man tàn ác của bọn xâm lăng miền Bắc cộng sản? Phi lý và bất công! Đám phản chiến khi xưa luôn miệng hô hào chấm dứt chiến tranh, biểu tình gây rối loạn xã hội miền Nam, nhưng tuyệt nhiên KHÔNG một mảy may “làm trời” tại miền Bắc hay hô hào Việt cộng rút quân. Tại sao?
(The Vietnam War: A film by Ken Burns & Lynn Novick – PBS)>

4.
Chống cộng sản hay chống cái ác?

a. Từ khi Việt cộng xua quân “chánh qui” lén lút xâm nhập miền Nam theo “cái-gọi-là-đường-mòn-HCM”, nhập chung với đám du kích ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, dựng lên “cái-gọi-là-Mặt-Trận-Giải-Phóng-miền- Nam” để tạo cớ xâm lăng miền Nam, thì bất kỳ người Quốc Gia già trẻ nào cũng hiểu là muốn bảo vệ quê nhà là PHẢI CHỐNG CỘNG. Rõ ràng như ngày và đêm. Không ai kêu gọi nhau CHỐNG CÁI ÁC.

Gần đây trong các cuộc biểu tình tại Việt Nam hiện nay, dân chúng, già trẻ lớn bé đều cùng CHỐNG TÀU CỘNG, không thấy biểu ngữ nào ghi là CHỐNG CÁI ÁC. Điều này nói lên rằng chống cộng sản, chống Việt cộng hay Tàu cộng không còn xa lạ với thanh thiếu niên tại quốc nội, không còn là vấn đề kỵ húy phải né tránh. Không cần thiết, thực sự là không cần thiết để mập mờ đưa họ đi vòng vòng “chống Ác” rồi cuối cùng lường gạt họ như tên già Hồ năm xưa đã lường gạt bao người ái quốc chống Pháp rồi đẩy đưa họ vào con đường cộng sản lỡ khóc lỡ cười.

Chống đảng cộng sản đang nắm quyền cai trị để có tự do, chống để có cơm ăn áo mặc như ngày xưa. Có lẽ sẽ thực tế và dễ hiểu cho người dân chân chất hơn là dùng những danh từ hoa mỹ “nhân quyền”. Cộng Sản đã nhắm vào giới công nông để đi lên. Chúng ta nên học bài học này, lấy gậy ông đập lưng ông, nóí thẳng thừng dễ hiểu cho giới này thì sẽ dễ dàng có được hậu thuẫn lớn, dễ đạt được kết quả thì hơn. Họ là những người chân lấm tay bùn, chơn chất, nói huỵch toẹt thì dễ chấp nhận nhất.

b. ÁC là một tĩnh từ trừu tượng. ÁC có một ý nghĩa tương đối.

Sao gọi là Ác? Sao gọi là Thiện?

Ác hay Thiện có thể thay đồi tùy theo cáí nhìn và cương vị của mỗi ngườì. Ác với anh chị chưa hẳn là ác với người khác. Như vậy kêu gọi chống Ác sẽ kêu gọi được bao nhiêu người? Chống một cái trừu tượng, không cụ thể sẽ khó mà đạt được thành công.

Ngược lại CỘNG SẢN là một danh từ, chỉ rõ một đối tượng cụ thể.

Hội Nghị Diên Hồng xưa kia đã vạch rõ mục tiêu, đặt rõ đối tượng là SÁT THÁT. Tổ tiên ta không hề kêu gọi Chống Ác. Do đó, cho dù quân lực Việt Nam xưa kia có thua Tàu nhưng nhờ đồng lòng và cương quyết can đảm duy nhất nhắm vào chống lại một kẻ thù chung mà chiến thắng vẽ vang.

c. CHỐNG CỘNG SẢN bao gồm CHỐNG những việc Ác mà cộng sản làm vì cộng sản luôn tàn ác, theo cái nhìn của hầu hết mọi ngườì trên tráí đất này, trừ chính bọn chúng không thấy chúng ác.

Trong khi CHỐNG CÁI ÁC chưa chắc đã bao gồm chống cộng sản.

1. Vì sao? Vì trong cái nhìn tình cảm cá nhân, bạn có quyền chọn lựa có cảm tình với anh cán bộ kia, chị bộ đội này vì anh /chị ấy KHÔNG ÁC (đối với bạn, nhưng chưa chắc không ác với ngườì khác).

Trong cuộc diện chung của Quốc Gia, Dân Tộc hay Cộng Đồng, tập hợp số đông ngườì để thực hiện một lý tưởng, một chính nghĩa thì Trắng Đen phải rõ ràng, minh bạch. KHÔNG có chuyện “lờ lợ” nửa mặn nửa ngọt như nước sông đổ ra biển tại Vàm. Việc làm này chỉ tạo cơ hội cho Việt gian trà trộn, phá quấy chương trình và kế hoạch.

2. Bạn đứng trên lăng kính nào để định nghĩa cái ÁC ?
Bọn phản chiến chống lại chiến tranh tại Việt Nam không ngừng tuyên truyền về những cái Ác của “Mỹ Ngụy”. Sự tuyên truyền này kèm theo những hình ảnh cố tình bôi bác một nguyên nhân thật phía sau, nhưng người ta không cần tìm hiểu mà tin ngay vào đó. Họ nhanh chóng kết luận, miền Nam Việt Nam là phe “chủ chiến, xâm lăng” tàn ác (ô hô là do bọn cộng sản đã gài cho thế giới tin như vậy) và bọn cộng sản Bắc Việt (thực chất là kẻ xâm lược) lại là những người “hy sinh để giải phóng miền Nam”. Nói như vậy, ai tin phe nào ÁC thì sẽ chống phe đó. Như vậy, kêu gọi chống Ác của Luật Sư Trần Kiều Ngọc hô hào, có thực sự có ý nghĩa là chống cộng sản nhưng không tiện nói ra như một vài vị đã bào chữa?

Tôi KHÔNG đồng thuận với câu tuyên bố của cô Luật sư Trần Kiều Ngọc. Cô cho là thế hệ trẻ của cô, của em cô nếu kêu gọi chống Cộng thì quá xa xôi mà chỉ nên kêu gọi chống cái Ác, bất kỳ do chế độ nào, thế lực nào làm ra.
https://youtu.be/eVSLuhVIrFk
Tài liêu của ký giả Hoàng Lan Chi.

Cá nhân tôi quá nghi ngờ lập trường này. Lập luận này hoàn toàn KHÔNG thể thuyết phục được tôi.

Với tôi, mọi việc rõ ràng như một định đề toán học:
“Phải chống cộng sản;
cộng sản Việt Nam phải bị xóa bỏ;
không hòa giải, không hòa hợp với Việt cộng nói riêng và cộng sản nói chung”.

lê ngọc túy hương
9.11.2017

Advertisements

Dạo:
Hôm nay cá chết ngập đường,
Ngày mai dân Việt trắng xương đầy đồng

Lời Cá Chết

Bờ biển rộng đã ngập tràn xác cá,
Người rùng mình, nghe giá buốt vây quanh.
Đôi mắt già chợt tê cóng lạnh tanh
Nhóng từng mảng xác bập bềnh trên sóng.

Trong gió khơi lồng lộng,
Mơ hồ vọng tiếng thở than.
Người ngây mặt ngỡ ngàng,
Nhìn con cá đang nhẹ nhàng hấp hối.

Lòng xốn xang bối rối,
Lời trăn trối thương đau.
Người lẳng lặng gục đầu,
Chua xót thấm từng câu từng chữ.
*
*     *
– “Tôi biết chỉ còn dăm ba phút nữa
Sẽ trả xong hết nợ để về trời.
Nhưng trước khi phải vĩnh viễn xa người,
Xin được nói lên một lời giã biệt.

Tuy là cá, nhưng vốn dòng cá Việt,
Cả đời tôi chỉ biết chốn này thôi,
Cha ông tôi đã trải mấy trăm đời,
Đem máu thịt nuôi người, không hối tiếc.

Tôi đoan chắc trong xác thân dân Việt,
Có ít nhiều máu huyết tổ tiên tôi.
Và dù cho bên súc vật, bên người,
Tình thân thiết vẫn muôn đời bền chặt.

Lòng chúng tôi quặn thắt,
Khi thấy giặc Bắc hoành hành,
Đem quê hương này phá nát tanh banh,
Xem tính mệnh dân lành như cỏ rác.

Tôi không những oán lũ Tàu độc ác,
Lũ sài lang vốn khác máu tanh lòng,
Tàn sát người, rải độc, cướp biển Đông,
Và nuốt trọn dần non sông nước Việt;

Mà càng oán đám bạo quyền ác nghiệt,
Theo ngoại bang để giết hại đồng bào.
Chúng chỉ lo nhét thật chặt hầu bao,
Dù đất nước có ra sao cũng kệ.

Tôi không hiểu sao con người có thể
Làm những trò độc ác thế với nhau,
Hằng gây ra trăm ngàn chuyện khổ đau
Cho những kẻ cùng màu da, huyết thống.

Chúng chẳng những dã man hành người sống,
Lại còn đem người chết tống đi xa,
Chiếm đất đai để xây phố xây nhà,
Mặc sớm tối dân gào la rên siết.

Tôi không ngại bị phanh thây xẻ thịt,
Làm thức ăn nuôi dân Việt của tôi.
Tôi ra đời cũng chỉ để thế thôi,
Hiến thân xác giúp con người bớt khổ.

Nhưng tôi sợ tấm thân đầy độc tố
Sẽ trở nên công cụ giết người thôi.
Chúng sẽ đem hóa chất ướp, tẩm, nhồi,
Biến thịt thối thành mồi ngon rao bán.

Chỉ thương hại người dân đen mắc nạn,
Đói lả người đành liều mạng gắng ăn,
Để sống còn qua ngày tháng khó khăn,
Dù biết sẽ chết dần trong bệnh hoạn…”
*
*     *
Con cá vụt quẫy mình, hơi thở đoạn,
Mắt lạc thần dường cố nán nhìn quanh.
Mảnh hồn xanh lưu luyến mấy cũng đành
Lìa khỏi chốn hôi tanh này mãi mãi.

Tiếng máy nổ từ xa dần vọng lại,
Từng đoàn xe vận tải kéo ùa sang,
Xếp thành hàng thật thứ tự lớp lang,
Chất đầy cá xong vội vàng tách bến.

Ai cũng biết chỗ món hàng sẽ đến,
Xác cá đầy độc chất biến thành “tươi”,
Rồi ngày ngày được phân phối khắp nơi,
Và sau đó, cả một trời bệnh tật.

Người mím miệng ngăn tiếng gào phẫn uất,
Nhìn khói xe chầm chậm khuất trên đường,
Khoé mắt già ri rỉ giọt buồn thương,
Chua xót biết quê hương giờ đã mất.
*
*     *
Hạt mưa chiều lất phất,
Hay lệ oan hồn lẩn quất đâu đây

Trần Văn Lương
Cali, 10/2017

Dạo:
Xưng danh tỵ nạn với đời,
Mà ngày Quốc Hận sao người muốn quên?

Đừng Hỏi Tao Muốn Gì

           (Thay lời một người công dân VNCH
          còn bị kẹt lại trong địa ngục trần gian)

Hỡi thằng bạn xưa cùng tao chung lối,
Sớm vượt biên, giờ trôi nổi phương nao,
Cám ơn mày vẫn còn nhớ đến tao,
Và gửi tới cho nhau lời thăm hỏi.

Trong thư mày có nói,
Mày biết tao nghèo đói bấy lâu nay,
Nên muốn gì thì cứ bảo mày hay,
Chuyến về tới, mày “ra tay tế độ”.

Nhưng tao đã quen sống đời gian khổ,
Như những người cùng cảnh ngộ quanh tao.
Đừng hỏi tao chuyện mong muốn ước ao,
Tao lết được bữa nào hay bữa nấy.

Tuy nhiên nếu mày chí tình muốn vậy,
Tao đành xin tạm quấy quá đôi lời,
Dẫu biết rằng chỉ nói để mà chơi,
Còn triển vọng, có chăng Trời mới biết.

Điều tao muốn cũng là điều dân Việt
Bấy lâu nay vẫn tha thiết mong cầu,
Kể từ khi tai ách giáng lên đầu,
Cả đất nước chìm sâu trong khổ hạn.
*
*     *
Tao muốn thấy lũ cầm quyền khốn nạn
Cùng tập đoàn Cộng sản chóng tiêu tan.
Chỉ thế này thì dân tộc Việt Nam
Mới cứu được giang san từ tay Chệt.

Tao không muốn người mang dòng máu Việt,
Khi đi xa bị khinh miệt coi thường,
Cũng chỉ vì thói trộm cắp bất lương,
Sau mấy chục năm trường quen gian dối.

Tao không muốn phải đau lòng mà nói,
Dân mình không còn biết tới lương tri,
Sống tham lam, xảo trá với bất nghì,
Nhác thấy lợi, hè thi nhau giành giật.

Tao không muốn thấy người dân chân chất,
Bị bạo quyền cướp mất chỗ dung thân,
Từ quê xa lê lết đến mòn chân,
Lầm hy vọng nhờ ác nhân phân xử.

Tao không muốn thấy hàng ngàn thiếu nữ,
Tuổi thanh xuân vừa nở nụ đơm hoa,
Phải bán thân làm nô lệ phương xa,
Để cứu vớt cả nhà đang đói rách.

Tao không muốn trẻ thơ còn cắp sách,
Phải ranh ma luồn lách tựa yêu tinh,
Xoay từng trăm từng chục giúp gia đình,
Mũi chưa sạch đà linh đinh khó nhọc.

Tao không muốn nơi Trung và Đại học,
Chỉ thấy toàn lừa lọc với hư danh,
Bằng cấp ma, chẳng mấy kẻ học hành,
Thầy bà cũng gian manh đồng một hạng.

Tao không muốn nhìn thanh niên trai tráng,
Chốn trà đình tửu quán rúc triền miên,
Chẳng biết gì đến công sức tổ tiên,
Hoặc lo lắng cho tiền đồ đất mẹ.

Tao không muốn thấy người già rơi lệ,
Trên vỉa hè ngồi kể lể kiếm ăn.
Xiết bao nỗi nhọc nhằn
Đang chồng chất lên tấm thân hành khất.

Tao không muốn dân mình mang ác tật,
Vì quanh năm nhiễm độc chất của Tàu,
Để rồi chẳng trước thì sau,
Đường thiên cổ dìu nhau đi lũ lượt.

Tao không muốn nhìn những người yêu nước,
Bị bắt giam, bị tước đoạt nhân quyền,
Bị đồng bào cùng thế giới bỏ quên,
Trong ngục tối ngày đêm ôm uất hận.

Tao mong ước thấy toàn dân nổi giận,
Trẻ dẫn đầu, già chầm chậm theo chân,
Cờ Vàng bay khắp các nẻo xa gần,
Quét sạch hết bầy sát nhân vô loại.
*
*     *
Mày chắc nghĩ ước mơ tao rồ dại,
E rằng Trời nghe cũng phải bó tay,
Nên tao xin mày chỉ một điều này,
Dù biết nó sẽ làm mày khóc dở.

Ngày Quốc Hận, tao muốn mày phải nhớ,
Đừng bày trò, viện cớ để ăn chơi,
Ngày đau buồn của dân Việt nơi nơi,
Không phải dịp để vui cười, buôn bán.

Mày vượt biển, trốn bạo quyền Cộng sản,
Thì đừng quên gốc tỵ nạn của mày,
Đừng quay về hưởng thụ với múa may,
Khi đất nước còn trong tay giặc Đỏ.

Quốc Hận luôn còn đó,
Dù lòng người theo gió đổi thay.

Trần Văn Lương
Cali, mùa Quốc Hận 2017

17156009_682357281943189_5500983743920307240_n

Từ ngày tháng ba gãy súng đến ngày quốc hận 30.4, 
xin hãy để tang cho những hương linh vị quốc vong thân 
và nạn nhân chiến cuộc Việt Nam Cộng Hòa.

Lê Ngọc Túy Hương


Histoire : Diễn tiến những ngày mất nước 30/4/1975.

Publié le 18 avril 2006 par laure nguyen duy

(Viết theo Nam Nguyên Phương Anh – Nguyễn An – vn đi tới , Một thời Phan-châu Trinh Đà nẵng

 

Cách đây 30 năm, ngày 30 tháng Tư năm 1975, cuộc chiến tranh VN kéo dài 21 năm đã kết thúc, hai triệu người ở cả hai miền Nam Bắc thiệt mạng.

 

Để đánh dấu tam thập niên ngày kết thúc cúa cuộc chiến tranh đẩm máu quốc cọng, chúng tôi xin nhắt lại cuộc diễn tiến lịch sử trong tuần lễ cuối cùng của thánh tư đen 30/04/75.

 Ngày 6/1/75 – Trong một trận mất thảm hại cho Việt Nam Cọng Hoà, quân miền Bắc tấn công, chiếm đươc Phước Bình, Phước Long và vùng phụ cận. Cuộc tấn công này vi phạm trắng trợn hiệp định Ba Lê, nhưng Hoa Kỳ không trã đũa. Những hy vọng pháo đài B-52 dội bom quân Cọng Sản xâm lược, cũng như Hoa Kỳ tăng viện trợ không còn nữa.

Ngày 11/3/75 – Quân đội hùng hậu miền Bắc tổng tấn công miền Trung Việt Nam gây thiệt hại nặng nề cho Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà.
Ban Mê Thuột, thị trấn Darlac vùng Cao Nguyên Trung Phần bị mất.

Ông Nguyễn văn Thiệu, Tổng Thống lúc bấy giờ quyết định rút quân bỏ Plieku và Kontum. Ông Thiệu quyết định thay đổi chiến lược “cắt đất, chia bớt dân cho Cọng Sản”. Chiến lược mới này ông Thiệu gọi là “Chiến lược đầu bé đít to”.  Việt Nam Cọng Hoà sẽ bỏ những vùng núi it dân, rút về phòng thủ những vùng trù phú, đông dân. “Ðầu bé” bao gồm Cao Nguyên , Quảng Trị, Thừa Thiên; “Ðít to” gồm đồng bằng sông cửu Long và Duyên Hải.


Ngày 17/3/75 – Cuộc rút bỏ Cao Nguyên khởi sự từ ngày 17-3-1975 gây hoang mang, xáo trộn khắp nơi. Binh sĩ Việt Nam Cọng Hoà tháo lui trong hỗn loạn, 60 ngàn người chết hoặc mất tích.
“Cuộc triệt thoái Cao Nguyên là một quyết định chiến lược sai lầm của tập đoàn lãnh đạo đất nước và chỉ huy Quân Ðội, đưa đến sự sụp đổ tinh thần, làm tan rã Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà và mất nước. Một cuộc hành quân triệt thoái với những bi thảm, kinh hoàng và thiệt hại lớn lao nhất trong lịch sữ chiến tranh Việt Nam” (Phạm Huân – “Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975”).

Tháng 3/75 – Quân đội miền Bắc đem 100 ngàn quân bao vây các tỉnh Quảng Trị, Huế và Ðà Nẵng. Với thiết giáp và tám sư đoàn pháo binh họ lẹ làng chiếm được tỉnh Quảng Trị.

Ngày 17/3/75 – Huế, trung tâm văn hoá, thành phố lớn nhất thứ ba của Việt Nam Cọng Hoà rơi vào tay quân đội miền Bắc. Sau đó là Ðà Năng, thành phố lớn thứ nhì cuả miền Nam. Xuân Lộc, thị trấn Long Khánh rơi vào tay quân miền Bắc.

 



Đầu tháng Tư 75 – Trong vòng năm tuần lễ quân đội miền Bắc đã chiếm được mười hai quận, kiểm soát tám triệu dân. Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà, mất đi những sư đoàn thiện chiến nhất, hơn một phần ba binh sĩ và một nửa vũ khí.



Ngày 8/4/1975 – Nguyễn Thành Trung đem báy bay thả bom dinh Ðộc Lập. Trước nguy cơ mất nước, các giới lãnh đạo chính trị, tôn giáo, và các đoàn thể yêu cầu Ông Thiệu từ chức. Tin đồn có hai cuộc đảo chánh hụt đã xảy ra.

 

Ngày 21/4/1975  – TT Nguyễn Văn Thiệu chịu áp lực từ nhiều phía và quyết định từ chức. Ông nói: “Thưa đồng bào anh chị em chiến sĩ cán bộ các cấp, tôi tuyên bố từ chức tổng thống và theo hiến pháp phó tổng thống Trần Văn Hương sẽ đảm nhận chức tổng thống.”

Khi nhà giáo Trần Văn Hương lên nắm giềng mối quốc gia, thì lúc đó 6 sư đoàn quân cộng sản Bắc Việt đang khép chặt vòng vây thủ đô Saigon, nơi có 3 triệu người sinh sống.

Ngày 24/4/1975 – Dự đoán sự sụp đổ của Việt Nam Cọng Hoà, Tổng Thống Hoa K ỳ, Gerald Ford, thông báo tại New Orleans, là đối với Hoa K ỳ, cuộc chiến Việt Nam đã “kết thúc”.

Ngày 25/4/1975 – Ông Nguyễn văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm  và đoàn tùy tùng đáp chuyến bay đặc biệt đi Ðài Loan.

Ngày 26/4/1975 – Nhận nhiệm vụ được 5 ngày, tới ngày 26/4 Ông Trần Văn Hương yêu cầu quốc hội tìm người thay thế mình, một người mà theo ông có đủ khả năng tìm giải pháp vãn hồi hoà bình hoà giải dân tộc.

Quốc hội ra nghị quyết chỉ định đại tướng Dương Văn Minh vào chức vụ tổng thống.

Ngày 28/4/1975 – Quân miền đã tiến đến gần ngoại ô Saigòn. Các nhà lãnh đạo Việt Nam Cọng Hoà, vội vã đưa tướng Dương văn Minh lên thay Tổng Thống Trần văn Hương để kết thúc chiến tranh theo các điều kiện cuả miền Bắc đòi hỏi. Trong bài diễn văn nhậm chức, Ông Minh keu gọi “người anh em phiá bên kia, Chính Phủ Lâm Th ời Miền Nam Việt Nam ” hãy tham gia cuộc hưu chiến và hoà đàm cho một giải pháp chấm dứt cuộc chiến.

Chiều ngày 28/4/1975 Lễ Bàn Giao giữa hai ông Trần Văn Hương và Dương Văn Minh được tổ chức tại Dinh Độc Lập.

Lời tổng thống Hương liên tục với tường thuật của phóng viên: “ …Làm thế nào cho dân được sống yên…làm thế nào cho máu đừng đổ thịt đừng rơi thì công của đại tướng đối với hậu thế sẽ lưu lại đời đời, dầu thế nào tôi thiết nghĩ đất nước này không bao giờ quên công lao đó của đại tướng….(vỗ tay)….(tường thuật)

Sau khi nguyên tổng thống Trần Văn Hương đọc xong bài diễn văn trao nhiệm, chúng tôi nhận thấy một sĩ quan đã gỡ huy hiệu tổng thống hai con rồng bay xuống…và thay thế bằng một huy hiệu tổng thống mới…với hình một hoa mai năm cánh…

Đây là phóng viên Hệ Thống Truyền Thanh VN, quí thính giả đang theo dõi trực tiếp truyền thanh lễ trao nhiệm chức tổng thống VNCH giữa ông Trần Văn Hương và cựu đại tướng Dương Văn Minh …

Lúc này bên ngoài dinh Độc lập chúng tôi nhận thấy trời đã bắt đầu mưa nhỏ và Saigon đang trải qua một buổi chiều u ám như hoàn cảnh hiện tại của đất nước…”

Cho đến 30 năm sau, vẫn chưa có lời giải đáp là tại sao Nam Việt Nam lại tan rã nhanh chóng như vậy. Tuy nhiên theo nhiều nhà phân tích thời cuộc, thì kể từ lúc tổng thống Thiệu từ chức ngày 21/4 và vội vã ra đi 2 ngày sau đó, sự kiện chế độ VNCH cáo chung chỉ còn là vấn đề thủ tục.

Ngày 29/4/1975 – Trực thăng Thủy quân lục chiến và của không quân Hoa K ỳ, bay từ các chiến hạm ngoài khơi, không vận một ngàn người Mỹ và hơn năm ngàn người Việt tị nạn ra khỏi Saigòn, trong vòng 18 tiếng đồng hồ.

Trực thăng Quân Lực Việt Nam Cọng Hòa tản mát bay đậu trên các chiến hạm Hoa K ỳ. Những trực thăng này phải vứt xuống biển, nhường chỗ đậu cho những chiếc kế tiếp.
Tướng Không Quân Nguyễn Cao Kỳ đáp trực thăng xuống chiến hạm USS Midway và sau đó chuyển sang chiến hạm Blue Ridge.

Ngày 30/4/1975 10 giờ sáng  – Đại Tướng Dương Văn Minh được xem là người thích hợp nhất để nhận trách nhiệm ra lệnh đầu hàng. Mời quí vị nghe lại tuyên bố của tổng thống Dương Văn Minh được phát đi trên Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia vào lúc 10 giờ sáng ngày 30/4/1975:

“ Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hoà giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam…vì lẽ đó tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ VNCH hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu ở đó.  

Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng, vì chúng tôi ở đây chờ gặp chính phủ CMLTCHMNVN để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự…tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào…”

Sau khi Đài Phát Thanh Saigon lập lại nhiều lần lệnh buông súng của Tổng thống Dương Văn Minh , cũng như nhật lệnh tương tự của thiếu tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người được bổ nhiệm làm phụ tá cho tổng tham mưu trưởng sau cùng là Trung Tư ớng Vĩnh Lộc. Quân đội đã thi hành lệnh giao nạp vũ khí cho những người chủ mới của đất nước.

Ngày 30/4/1975 10 giờ 45 sáng  – Xe Tăng Cộng Sản Bắc Việt tiến vào khuôn viên Dinh Độc Lập lúc 10g45 phút sáng ngày 30/4, đánh dấu sự cáo chung của chế độ VNCH. Một chế độ được xây dựng bởi những người không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản. Chế độ ấy trải qua hai nền cộng hoà tồn tại được 21 năm.

Cuộc chiến quốc cộng huynh đệ tương tàn làm thiệt mạng hơn hai triệu người Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc. Phía đồng minh của VNCH, 58 ngàn quân nhân Mỹ tử trận cùng hàng ngàn binh sĩ của các nước Nam Hàn, Thái Lan, Úc và Tân Tây Lan.

Ðại Sứ Martin không muốn rời Việt Nam, vì ông ta muốn kéo dài thì giờ để có thể cứu thêm những người khác. Cuối cùng, chúng tôi phải chỉ thị bắt ông đại sứ phải rời nhiệm sở. Ông đại sứ Martin nói chuyện với chúng tôi và tôi còn nhớ là ông ta bảo là sẽ lên sân thượng của Toà Ðại Sứ, dùng trực thăng để ra hạm đội, và chúng tôi nói lời từ giã với nhau.

Không đầy một giờ đồng hồ sau đó, đại sứ Martin gọi điện lại báo đã ra tới hạm đội bình yên.
Hậu quả – Chiến tranh Việt Nam chấm dứt sau 15 năm đẫm máu. Hơn một triệu binh sĩ miền Nam lẫn miền Bắc tử trận, hàng ngàn thường dân bị chết.

Các binh sĩ Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà, công chức kẹt lại bị gọi đi tập trung lao động cải tạo ở các trại rải từ Phú Quốc, Cà Mau đến Lào Cay tận biên giới Trung Quốc.



Cuộc di tản bằng thuyền để trốn chế độ Cọng Sản bắt đầu.

Sau 1975, số lượng người Việt đã bỏ xác trên biển Đông, trong tay hải tặc suốt 22 năm từ 1975 đến 1997 khi các trại tỵ nạn chính thức đóng cửa, lần nữa, cũng chẳng thể nào thống kê được. Những trại tỵ nạn Camp Pendleton, Leamsing, Palawan, Pulau Bidong, Sungai Besi, Bataan, White Head, Panat Nikhom, Galang,… sau những chuyến hải hành vô định trên biển Đông trùng trùng gió bão trong đói khát, lo âu.Bà mẹ quỳ lạy những tên hải tặc để xin tha cho đứa con gái chỉ mười lăm tuổi ốm o bịnh hoạn của bà. Nước mắt và những lời van xin của mẹ không lay động tâm hồn của những con người không còn một chút lương tri. Tiếng niệm Phật, lời cầu kinh không ai nghe. Không có Chúa và không có Phật, ở đó, trên bãi san hô của đảo Koh Kra, phía nam vịnh Thái Lan, chỉ có những thân thể trần truồng, máu me nhầy nhụa, chỉ có tiếng rên của những con chim nhỏ Việt Nam bất hạnh và giọng cười man rợ của bầy ác điểu Thái Lan. Chúng ta có thể từng nghe kể lại những chuyến vượt biển hãi hùng, những cái chết thương tâm, tuy nhiên những cảnh hãi hùng và thương tâm nhiều lần hơn như thế sẽ không bao giờ nghe được, đơn giản vì chẳng còn ai để kể.

 

30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu một thảm cảnh của dân tộc Việt Nam, ngày mà cán binh cộng sản xâm chiếm nước Việt Nam Cộng Hoà. Đảng CS  đã áp đặt lên dân tộc Việt một thể chế ngoại lai, man di mọi rợ : vô gia đình, vô tôn giáo, vô tổ quốc. 

Nước Việt rơi vào chế độ độc tài và độc đảng. Quyền dân bị tịch thâu bở đáng CS. Kinh tế và giáo dục bị kiềm chế. Tư do bị xáo bỏ. Cho đến bao giờ ???

tiengnacdemtrutich

Dạo:
Nhởn nhơ áo Tết về quê,
Biết chăng dân Việt trăm bề đớn đau.

Tiếng Nấc Đêm Trừ Tịch

Đêm trừ tịch, gian phòng lạnh ngắt,
Người đàn bà cúi mặt trầm ngâm.
Nghẹn ngào tủi phận thương thân,
Có chồng mà phải đón Xuân một mình.

Rồi khẽ nhấc bức hình trên kệ,
Ngắm hai người son trẻ năm nao,
Mà nghe thất vọng dâng trào,
Hùa theo tiếng nấc, lệ dào như mưa.
*
*     *
Anh yêu hỡi, giao thừa đã đến,
Lệ em cùng lệ nến tuôn rơi.
Anh về quê mẹ vui chơi,
Tha hương em xé lịch vơi một mình.

Anh giờ chắc lềnh bềnh tửu quán,
Phè phỡn cùng đám bạn mềm môi,
Chén anh, chén chú, chén tôi,
Quên phăng cái thuở xa xôi nhọc nhằn.

Anh có nhớ những năm tù ngục,
Giặc đem anh lăng nhục từng ngày?
Bạn anh, chúng giết thẳng tay,
Anh may sống sót lất lây nhờ Trời.

Anh có nhớ quãng đời vất vả,
Sau khi anh được thả về nhà?
Chạy ăn từng bữa xót xa,
Trẻ con đói rách, người già điêu linh.

Anh có nhớ công trình vượt biển,
Bị mắc lừa mấy chuyến mới xong?
Nhìn dân mình chết biển Đông,
Có là gỗ đá mới không đau sầu.

Anh có nhớ buổi đầu trong trại,
Trơ mắt nhìn lũ Thái hung hăng?
Bị hành, chẳng dám nói năng,
Âm thầm chỉ biết cắn răng sượng sùng.

Anh có nhớ khai cùng Di Trú,
Vì sao lìa quê cũ sang đây?
Mà nay dạ đổi lòng thay,
Đang tâm trở mặt quên ngay lời thề.

Anh kiếm cớ đi về lắm bận,
Dựng chiêu bài quanh quẩn ăn chơi,
Lúc thì “từ thiện” giúp đời,
Lúc thì “báo hiếu” cho người thân yêu!

Trở lại Mỹ, sớm chiều “hát dạo”,
Thay kẻ thù quảng cáo liên miên,
Rằng quê mình rất bình yên,
Rằng dân mình sống ấm êm trăm bề.
*
*     *
Anh có biết anh về sung sướng,
Vung tiền còm thụ hưởng tiện nghi,
Trong khi dân phải ra đi
Làm thân nô lệ cu li nước ngoài?

Anh chỉ thấy đền đài tráng lệ,
Cùng quán hàng lắm kẻ vào ra,
Mà không thấy cảnh dân ta,
Ngày đêm khổ ải xót xa muộn phiền.

Anh chỉ thấy bạo quyền hùng hổ,
Ra oai hùm nạt nộ múa may,
Mà không mở mắt để hay,
Chủ quyền toàn ở trong tay giặc Tàu.

Anh có thấy đâu đâu cũng Chệt,
Đang nghênh ngang chiếm hết quê mình?
Phần do lũ thú Ba Đình,
Phần do những kẻ vô tình như anh.

Anh chỉ thấy bầy doanh nhân Việt,
Cùng anh về yến tiệc hả hê,
Mà không thấy ở bên lề
Những đồng đội cũ đang lê thân tàn.

Anh có thấy trại giam khắp chốn,
Nơi công an làm khốn bao người?
Vì lòng yêu nước không nguôi,
Họ cam tâm gánh cả trời khổ đau.

Chồng em hỡi, từ lâu em gắng,
Tránh buông lời nói nặng cùng anh.
Nhưng nay gương đã tan tành,
Chút duyên chồng vợ, em đành xin quên.

Em cương quyết làm viên ngọc vỡ,
Theo sao trời rực rỡ đêm đêm,
Còn hơn làm phiến ngói nguyên,
Quanh năm xám xịt ngơi trên mái nhà.
*
*     *
Sau tiếng nấc, mắt già chợt quắc,
Người mím môi dập tắt cơn sầu,
Lạnh lùng gói lại buồn đau,
Cầm như mình đã từ lâu góa chồng.

Le lói bên song
Tia nắng hồng năm mới.

Trần Văn Lương
Cali, 1/2017

xuan-dinh-dau-lnth

qh2016

Tháng Tư, tháng QUỐC TANG của con dân Việt Nam Cộng Hoà.
Thành kính tưởng niệm chư anh linh tất cả
QUÂN DÂN CÁN CHÍNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ
vị quốc vong thân.

Triệt để không giao dịch, tiếp tay hay làm bất kỳ điều gì có lợi
cho cộng sản Việt Nam, việt cộng, việt gian.
DIỆT CỘNG LÀ YÊU NƯỚC.

 

Lê Ngọc Tuý Hương

ddbv1

Dạo:
Giặc còn tàn hại non sông,
Thì dù xương trắng vẫn không chịu về.

Đừng Đem Bố Về

(Dựa trên lời một vị lính già dặn dò con trai mình trước khi ông mất:
– Chỉ khi nào nước mình hết Cộng sản thì con mới đem tro của Bố về quê chôn cạnh Ông Bà Nội)

Con ơi hãy lắng nghe lời Bố dặn,
Sau khi mà Bố nhắm mắt xuôi tay,
Nhúm tro tàn, hãy tạm để nơi đây,
Đừng có vội đem ngay về chốn cũ.

Bố chỉ sợ con nghe người ta dụ,
Theo kết bè kết lũ để “thăm quê”,
Rồi tiện tay mang tro Bố trở về,
Để Bố lỗi lời thề khi bỏ xứ.

Nơi cắt rốn, ai mà không thương nhớ,
Ai không hề trăn trở bước lưu vong.
Nhưng con ơi, phải nghĩ đến non sông,
Đang đau đớn chờ mong ngày giải thoát.

Tháng Tư đó, quê hương mình tan nát,
Bao nhiêu người gạt nước mắt ra đi.
Lòng dặn lòng, trong giây phút phân ly,
Còn giặc Cộng, quyết thề không trở lại.

Lời khấn nguyện, Bố hằng ghi nhớ mãi,
Và dẫu lòng luôn khắc khoải xót xa,
Bố quyết tâm không phản bội quê nhà,
Dù khi đã hóa ra người thiên cổ.
*
*     *
Về sao được khi quê cha đất tổ,
Còn trong tay đám hổ báo sài lang
Đang đê hèn làm nô lệ ngoại bang,
Nhưng độc ác hung tàn cùng dân Việt.

Làm sao Bố yên tâm dù đã chết,
Khi dân Nam vẫn rên siết trong tù,
Từ học trò, tu sĩ đến nông phu,
Chỉ vì “tội” chống kẻ thù xâm lược.

Vong hồn Bố làm sao siêu thoát được,
Khi đau lòng nhìn đất nước thân yêu,
Bỗng trở nên, trong một sớm một chiều,
Nơi sản xuất rặt những điều tồi tệ.

Xã hội đã suy đồi từ gốc rễ,
Già lưu manh, đến trẻ cũng lưu manh,
Người với nhau chỉ lừa đảo tranh giành,
Cả đất nước biến thành hang trộm cướp.

Dù kẻ khác về ăn chơi nườm nượp,
Nhưng mình không làm thế được, con ơi.
Nhìn khắp nơi tội ác vẫn ngập trời,
Ai là kẻ không bồi hồi phẫn chí.

Làm sao mà an nghỉ,
Khi mộ phần bao chiến sĩ miền Nam
Bị bọn cầm quyền độc ác gian tham,
Muốn cướp đất, đã san thành bình địa.

Nỗi đau càng thấm thía,
Khi thấy người chạy mất vía năm nao,
Nay trở về thật diêm dúa bảnh bao,
Cùng nhăn nhở, ồn ào nâng chén cạn.

Làm sao mà thanh thản,
Khi phải nhìn đứa bạn ngày xưa,
Nạng gỗ mòn, ống quần rỗng đong đưa,
Khay vé số dầm nắng mưa kiếm sống.

Làm sao không tuyệt vọng,
Khi chung quanh tràn ngập bóng quân thù,
Ngoan ngoãn tuân theo lệnh của Tàu phù,
Hung hăng gác căn nhà tù vĩ đại.

Làm sao không tê tái,
Khi dân mình cứ mãi gánh khổ đau.
Và dù cho ở tận đáy mộ sâu,
Người chết cũng phải gục đầu than khóc.

Chỉ đem Bố trở về khi dân tộc
Có nhân quyền và độc lập tự do,
Người người đều được áo ấm cơm no,
Không còn bị loài Cộng nô thống trị.

Con hãy nhớ những lời này thật kỹ:
Bao lâu bầy Cộng phỉ vẫn thong dong,
Gót chân Tàu còn giẫm nát non sông,
Thì mình vẫn quyết một lòng son sắt.

Con ơi nếu Trời xanh kia quá quắt,
Bắt dân mình vĩnh viễn mất quê hương,
Thì chút tro tàn của kiếp tha phương,
Đổ giùm Bố, đừng tiếc thương giữ lại.
*
*     *
Mộng cứu nước bao năm rồi chưa toại,
Lối quay về, ngàn quan ải cách ngăn.
Trong đêm đen, đôi khóe mắt nhọc nhằn,
Nỗi đau đớn thầm lăn trên má lạnh.

Trần Văn Lương
Cali, Quốc Hận 2016

Tag Cloud